Lectio: Chúa Nhật XI Thường Niên
Chúa Giêsu tiếp đón và bênh vực 
Người đàn bà với bình thuốc thơm
Niềm tin của người nghèo khó vào Đức Giêsu
Lc 7:36 – 8:3
1. Lời nguyện mở đầu
Lạy Chúa Giêsu, xin hãy ban Thần Khí Chúa đến giúp chúng con đọc Kinh Thánh với tâm tình mà Chúa đã đọc cho các môn đệ trên đường E-mau. Trong ánh sáng của Lời Chúa, được viết trong Kinh Thánh, Chúa đã giúp các môn đệ khám phá ra được sự hiện diện của Thiên Chúa trong các sự việc bối rối của bản án và cái chết của Chúa. Vì thế, cây thập giá tưởng như là sự kết thúc của mọi niềm hy vọng đã trở nên nguồn gốc của sự sống và sự sống lại.
Xin hãy tạo sự thinh lặng trong chúng con để chúng con có thể lắng nghe tiếng Chúa trong sự Tạo Dựng và trong Kinh Thánh, trong các sự việc và trong những người chung quanh nhất là những người nghèo khó và đau khổ. Nguyện xin Lời Chúa hướng dẫn chúng con để chúng con cũng giống như hai môn đệ từ E-mau, nguyện xin sức mạnh của sự phục sinh của Chúa và làm chứng cho những người khác rằng Chúa đang sống hiện hữu giữa chúng con như cội rễ của tình anh em, công lý và hòa bình. Chúng con cầu xin vì danh Chúa Giêsu, con của Đức Maria, Đấng đã tỏ lộ cho chúng con về Chúa Cha và gửi Chúa Thánh Thần đến với chúng con. Amen.
2. Phúc Âm
a) Ý chính của bài Phúc Âm:
Bài Phúc Âm của Chúa Nhật tuần này đặt trước chúng ta hai phân cảnh liên quan đến nhau. Phân cảnh thứ nhất thì khá cảm động. Một người phụ nữ được cho là một người tội lỗi trong thành, đã có đủ can đảm để đi vào nhà ông Si-mon, một người Biệt Phái, đang trong bữa ăn, để gặp Chúa Giêsu, ngươi đàn bà này đã rửa chân cho Chúa, hôn chân Chúa và xức thuốc thơm. Phân cảnh thứ hai diễn tả cộng đoàn của Chúa Giêsu gồm những người đàn ông và phụ nữ.
Khi bạn đọc đoạn Phúc Âm này, hãy tưởng tượng bạn đang ở trong nhà của người Biệt Phái, ngồi tại bàn và quan sát cẩn thận các thái độ, hành động và lời nói của những người hiện diện, người phụ nữ, Chúa Giêsu và những người Biệt Phái. Hãy đọc lại đoạn tài liệu ngắn mà Luca đã đưa ra liên quan đến cộng đoàn đang tập hợp xung quanh Chúa Giêsu và hãy cố gắng xem xét kỹ lưỡng những chữ đã được dùng để thấy rằng cộng đoàn được bao gồm những người đàn ông và phụ nữ đi theo Chúa Giêsu.
c) Phân đoạn bài Tin Mừng để trợ giúp cho bài đọc:
Lc 7:36-38: Một người phụ nữ rửa chân Chúa Giêsu trong nhà một người Biệt Phái
Lc 7:39-40: Phản ứng của người Biệt Phái và câu trả lời của Đức Giêsu
Lc 7:41-43: Dụ ngôn về hai người mắc nợ và câu trả lời của người Biệt Phái
Lc 7:44-47: Chúa Giêsu dùng dụ ngôn để biện hộ cho người phụ nữ
Lc 7:48-50: Tình yêu nảy sinh ra sự tha thứ và sự tha thứ phát sinh ra tình yêu
Lc 8:1-3: Những người đàn ông và phụ nữ môn đệ của Chúa Giêsu
d) Phúc âm
36 Khi ấy, có một người Biệt Phái kia mời Chúa Giêsu đến dùng bữa với mình. Khi Người vào nhà người Biệt Phái và vào bàn ăn, 37 chợt có một người đàn bà tội lỗi trong thành, nghe biết Người đang dùng bữa trong nhà người Biệt Phái liền mang đến một bình bạch ngọc đựng thuốc thơm. 38 Bấy giờ bà đứng phía chân Người, khóc nức nở, và nước mắt ướt đẫm chân người, bà lấy tóc lau, rồi hôn chân và xức thuốc thơm.
39 Thấy thế, người Biệt Phái đã mời Người tự nghĩ rằng: “Nếu ông này là tiên tri thì phải biết người đàn bà đang động đến mình là ai và thuộc hạng người nào: là một người tội lỗi.” 40 Nhưng Chúa Giêsu lên tiếng bảo ông rằng: “Hỡi Simon, Tôi có điều muốn nói với ông.” Simon thưa: “Xin Thầy cứ nói.” 41 “Một người chủ nợ có hai con nợ; một người nợ năm trăm đồng, người kia nợ năm mươi. 42 Vì cả hai không có gì trả, nên chủ nợ tha cho cả hai. Vậy trong hai người đó, người nào sẽ yêu chủ nợ nhiều hơn?” 43 Simon đáp: “Tôi nghĩ là kẻ đã được tha nhiều hơn.” Chúa Giêsu bảo ông: “Ông đã xét đoán đúng.” 44 Và quay lại phía người đàn bà, Người bảo Simon: “Ông thấy người đàn bà này chứ? Tôi đã vào nhà ông, ông đã không đổ nước rửa chân Tôi, còn bà này đã lấy nước mắt rửa chân Tôi, rồi lấy tóc mình mà lau. 45 Ông đã không hôn chào Tôi, còn bà này từ lúc vào không ngớt hôn chân Tôi. 46 Ông đã không xức dầu trên đầu Tôi, còn bà này đã lấy thuốc thơm xức chân Tôi. 47 Vì vậy, Tôi bảo ông, tội bà này rất nhiều mà đã được tha rồi, vì bà đã yêu mến nhiều. Kẻ được tha ít là kẻ yêu mến ít.” 48 Rồi Người bảo người đàn bà: “Tội con đã được tha rồi.” 49 Những người đồng bàn liền nghĩ trong lòng rằng: “Ông này là ai mà lại tha tội được?” 50 Và Người nói với người đàn bà: “Đức tin con đã cứu con; con hãy về bình an.
8:1 Sau đó Người rảo qua các thành thị và xóm làng, giảng dạy và loan báo nước Thiên Chúa. Có nhóm Mười Hai cùng đi với Người, 2 cũng có cả mấy người phụ nữ đã được chữa khỏi tà thần và bệnh tật: Maria gọi là Mađalêna đã được chữa khỏi bảy quỷ ám, 3 Gioanna vợ của Cusa, viên quản lý của Hêrôđê, Susanna, và nhiều bà khác: họ đã lấy của cải mình mà giúp Người.
3. Giây phút cầu nguyện trong thinh lặng
Để Lời của Chúa có thể thấm nhập và soi sáng cuộc sống của chúng ta
4. Một vài câu hỏi gợi ý
Để giúp chúng ta trong việc suy gẫm từng cá nhân
a) Điều gì bạn thích nhất và đánh động bạn nhất trong đoạn Kinh Thánh này? Tại sao?
b) Người đàn bà đã làm gì và bà ấy đã làm như thế nào?
c) Người Biệt Phái tỏ thái độ gì với Chúa Giêsu và với người đàn bà: ông ta đã làm gì và nói gì?
d) Chúa Giêsu đã có thái độ gì với người phụ nữ: Người đã làm gì và nói gì?
e) Người đàn bà có sẽ làm những gì cô ta đã làm nếu cô ta không hoàn toàn chắc chắn rằng Chúa Giêsu sẽ tiếp đón cô ta? Ngày nay, những người bị thiệt thòi trong xã hội có cùng một sự tin tưởng vững vàng như thế đối với những người Kitô hữu chúng ta hay không?
f) Tình yêu và sự tha thứ. Những người phụ nữ đi theo Chúa Giêsu là ai? Điều gì đã khiến họ gắn bó với nhau?
g) Cộng đoàn của Chúa Giêsu: Những người phụ nữ đi theo Chúa Giêsu là ai? Họ đã làm những gì?
5. Dành cho những người muốn đào sâu hơn vào chủ đề
a) Bối cảnh văn học và lịch sử của đoạn Phúc Âm:
Trong chương 7 của sách Phúc Âm của mình, thánh Luca đã mô tả những điều mới mẻ và đáng ngạc nhiên xảy ra trong dân chúng kể từ khi Chúa Giêsu công bố về nước Thiên Chúa. Tại Ca-pha-na-um, Người ca ngợi đức tin của dân ngoại: “Amen, Tôi nói cho các ông hay: ngay cả ở trong dân Ít-ra-en, Tôi cũng chưa thấy một người nào có lòng tin mạnh như thế! (Lc 7:1-10) Người đã cho con trai của bà góa tại thành Na-im được sống lại (Lc 7:11-17). Phương cách Chúa Giêsu công bố về nước Thiên Chúa làm ngạc nhiên những người Do Thái đến nỗi mà ngay cả ông Gioan Tẩy Giả đã phải ngạc nhiên và sai người đến hỏi: "Thầy có thật là Đấng phải đến không, hay là chúng tôi còn phải đợi ai khác?” (Lc 7:18-30). Chúa Giêsu đã phê phán sự ngập ngừng lưỡng lự của những kẻ chống đối Chúa: “Họ giống như những đứa trẻ không biết mình muốn gì!” (Lc 7:31-35). Và tại đây, phần cuối của chương này, đó là phần bài Phúc Âm của chúng ta (Lc 7:36 – 8:3), có điều gì khác đó đã bắt đầu xuất hiện và tạo ngạc nhiên trong Tin Mừng của nước Thiên Chúa: thái độc của Chúa Giêsu đối với phụ nữ.
Vào lúc Tân Ước được viết tại đất Pa-lét-tin, phụ nữ là thành phần bị thiệt thòi. Họ không được tham gia các công việc trong hội đường hoặc các việc trong xã hội. Từ thời ông Êz-ra (thế kỷ IV trước Chúa Giáng Sinh), việc chống đối với các phụ nữ đã tiếp tục tăng như chúng ta nhận thấy trong các câu chuyện về các bà Judith, Esther, Ruth, Naomi, Susanna, những người phụ nữ Sulamide và nhiều người khác. Việc chống đối này đối với giới phụ nữ đã không tìm thấy một tiếng vang nào trong việc Chúa Giêsu tiếp đón các người phụ nữ. Trong phân cảnh về người phụ nữ với bình thuốc thơm (Lc 7:36-50), chúng ta thấy việc chống lại chủ nghĩa tuân thủ trong việc Chúa Giêsu đón tiếp giới phụ nữ. Trong đoạn mô tả về cộng đoàn đang được gây dựng chung quanh Chúa Giêsu (Lc 8:1-3), chúng ta thấy đàn ông và phụ nữ tề tựu chung quanh Chúa Giêsu, bình đẳng trong vị thế như các môn đệ.
b) Lời bình giải về đoạn Phúc Âm:
Lc 7:36-38: Một người phụ nữ rửa chân Chúa Giêsu trong nhà một người Biệt Phái
Có tất cả ba người khác nhau cùng gặp gỡ: Chúa Giêsu, người Biệt Phái và người phụ nữ có tiếng là người tội lỗi. Chúa Giêsu đang ở trong nhà Simon, một người Biệt Phái đã mời Chúa đến dùng bữa tại nhà mình. Một người đàn bà bước vào, quỳ dưới chân Chúa Giêsu, khóc lóc, rửa chân Người bằng nước mắt của mình, rồi xổ tóc để lau khô chân Chúa Giêsu, rồi hôn chân và xức thuốc thơm lên chân Người. Cử chỉ xổ tóc của người phụ nữ trước công chúng là một dấu hiệu của sự độc lập. Cảnh này đã tạo nên một cuộc tranh luận tiếp theo đó.
Lc 7:39-40: Lời đối đáp giữa người Biệt Phái và Chúa Giêsu
Chúa Giêsu đã không ngần ngại, không quở trách người đàn bà mà lại còn để cho bà ta tự do làm những điều ấy. Người phụ nữ là người mà theo lề luật Do Thái thời ấy không đáng được tiếp đón. Trông thấy những gì đang xảy ra, người Biệt Phái chỉ trích Chúa Giêsu và lên án người phụ nữ: “Nếu ông này là tiên tri thì phải biết người đan bà đang động đến mình là ai và thuộc hạng người nào: là một người tội lỗi!” Để đáp lại lời khiêu khích của người Biệt Phái, Chúa Giêsu đã kể một dụ ngôn; một dụ ngôn mà sẽ giúp người Biệt Phái và tất cả chúng ta thấy được lời kêu gọi vô hình của tình yêu Thiên Chúa, Đấng đã tự tỏ lộ mình trong cảnh ấy.
Lc 7:41-43: Dụ ngôn về hai người mắc nợ và câu trả lời của người Biệt Phái
Việc kể lại dụ ngôn sau đây: Một chủ nợ có hai con nợ. Một người nợ năm trăm đồng tiền bạc và người kia nợ năm chục. Một đồng tiền bạc tương đương với một ngày lương. Do đó, tiền lương của năm mươi ngày làm việc! Cả hai không có gì để trả nên chủ nợ tha cho cả hai. trong hai người đó, người nào sẽ yêu chủ nợ nhiều hơn? Người Biệt Phái đáp: “Tôi nghĩ là người đã được tha nhiều hơn!” Bài dụ ngôn ví dụ rằng trước đó, cả người Biệt Phái lẫn người phụ nữ đều đã nhận được một số ân sủng từ Chúa Giêsu. Bây giờ, trong thái độ của hai người đối với Chúa Giêsu cho chúng ta thấy lòng biết ơn của họ về những ân sủng đã nhận được. Người Biệt Phái đã tỏ lòng yêu mến, lòng biết ơn bằng cách mời Chúa Giêsu đến nhà mình. Người phụ nữ bày tỏ tình yêu mến và lòng biết ơn của mình với những giọt nước mắt, những nụ hôn và thuốc thơm. Giữa hai hành động, hành động nào tỏ cho thấy một tình yêu lớn hơn: việc ăn uống hay là những nụ hôn và thuốc thơm? Liệu sự đo lường tình yêu của một người có thể nào tùy thuộc vào kích thước của món quà tặng không?
Lc 7:44-47: Chúa Giêsu dùng dụ ngôn để biện hộ cho người phụ nữ
Khi Người nhận được câu trả lời đúng từ người Biệt Phái, Chúa Giêsu liền áp dụng nó vào việc xuất hiện của người phụ nữ trong bữa ăn. Người biện hộ cho người phụ nữ tội lỗi trước sự phán xét theo luật lệ Do Thái. Điều mà Chúa Giêsu muốn nói với người Biệt Phái của mọi thời đại là thế này: “Kẻ được tha ít, thì yêu mến ít!” Việc bảo vệ cá nhân đó là tôi, người Biệt Phái, đã tạo nên cho chính tôi bởi vì việc tuân giữ theo lề luật Thiên Chúa và Giáo Hội của tôi, thường xuyên ngăn trở tôi không tỏ bày một tình yêu biết ơn đối với một Thiên Chúa luôn tha thứ. Điều quan trọng không phải là việc tuân giữ các lề luật, nhưng mà là vì tình yêu tôi tuân giữ lề luật. Áp dụng các dấu hiệu tình yêu của người phụ nữ tội lỗi, Chúa Giêsu đáp lời người Biệt Phái, người tự coi mình là công lý: “Ông thấy người đàn bà này chứ? Tôi đã vào nhà ông, và ông đã không đổ nước rửa chân Tôi, nhưng bà này đã lấy nước mắt rửa chân Tôi, rồi lấy tóc mình mà lau. Ông đã không hôn chào Tôi, còn bà này từ lúc vào không ngớt hôn chân Tôi. Ông đã không xức dầu trên đầu Tôi, còn bà này đã lấy thuốc thơm xức chân Tôi. Vì vậy, Tôi bảo ông, tội bà này rất nhiều mà đã được tha rồi, vì bà đã yêu mến nhiều. Kẻ được tha ít, thì yêu mến ít.” Điều này chẳng khác gì Người đã nói: “Simon, mặc dù ông mở yến tiệc thết đãi tôi, nhưng ông yêu mến rất ít!” Tại sao? Tiên tri Giêrêmia đã từng nói rằng trong tương lai, trong giao ước mới, “họ sẽ không còn phải dạy cho các bạn hữu và thân thích của họ làm thế nào để biết Đức Chúa. Chúa phán, tất cả từ kẻ bé nhất đến người lớn nhất, sẽ biết Ta, bởi vì Ta sẽ tha thứ tội ác cho họ và không còn nhớ đến lỗi lầm của họ nữa”. (Gr 31:34) Nhận thức được tha thứ làm cho người ta cảm nghiệm được tình yêu của Thiên Chúa. Khi người Biệt Phái gọi người phụ nữ là “một người tội lỗi”, ông ta tự coi mình là một người công bằng tuân giữ và thực thi lề luật. Ông ta giống như người Biệt Phái ở trong một dụ ngôn khác đã nói: “Lạy Thiên Chúa, xin tạ ơn Chúa, vì con không như bao kẻ khác: tham lam, bất chính, ngoại tình, hoặc như tên thu thuế kia” (Lc 18:11). Simon có thể đã nghĩ: “Lạy Thiên Chúa, con cảm tạ Chúa vì con không giống như người đàn bà tội lỗi này!” Nhưng người trở về nhà được nên công chính không phải là người Biệt Phái mà là người thu thuế vì đã thưa rằng: “Lạy Chúa, xin thương xót con vì con là kẻ có tội!” (Lc 18:14). Từ khởi thủy, những người Biệt Phái luôn tự coi mình là vô tội, bởi vì họ giữ đúng mọi lề luật của Thiên Chúa, họ đến hội đường, cầu nguyện, bố thí và đóng thuế đầy đủ. Họ đặt việc an ninh của họ vào những gì họ làm cho Thiên Chúa, mà không phải vào tình yêu và sự tha thứ của Thiên Chúa đối với họ. Đó là lý do tại sao Simon, người Biệt Phái, không thể có được cảm nghiệm tình yêu cho không của Thiên Chúa.
Lc 7:48-50: Tình yêu nảy sinh ra sự tha thứ và sự tha thứ phát sinh ra tình yêu
Chúa Giêsu bảo người phụ nữ: “Tội con đã được tha rồi.” Rồi những người đồng bàn liền nghĩ trong lòng rằng: “Ông này là ai mà lại tha tội được?” Nhưng Chúa Giêsu nói với người đàn bà: “Đức tin con đã cứu con. Hãy đi và đừng phạm tội nữa!” Ở đây, chúng ta thấy thái độ mới của Chúa Giêsu. Người không lên án nhưng lại tiếp đón. Đức tin đã cho phép người phụ nữ tự biết, chấp nhận bản thân và Thiên Chúa. Trong cuộc gặp gỡ với Đức Giêsu, một sức lực mới đã vỡ òa ra để giúp bà ta trở nên một con người mới. Một câu hỏi quan trọng đến trong trí chúng ta. Liệu người đàn bà tội lỗi trong thành phố ấy có làm những việc bà ta đã làm nếu bà ấy không dám chắc rằng Đức Giêsu sẽ tiếp nhận mình hay không? Điều này có nghĩa là đối với những người nghèo khó trong vùng Galilê thời ấy, Chúa Giêsu là người đáng được tin cậy tuyệt đối! “Chúng ta có thể tin tưởng ông ta. Ông ấy sẽ đón tiếp chúng ta!” Liệu những người thấp cổ bé miệng thời nay có cùng một sự tin tưởng như thế đối với những Kitô hữu chúng ta?
Lc 8:1-3: Cộng đoàn những người môn đệ của Chúa Giêsu
Chúa Giêsu rảo qua các thành thị và xóm làng của đất Galilê, giảng dạy và loan báo nước Thiên Chúa và có nhóm Mười Hai cùng đi với Người. Khái niệm “đi theo Chúa Giêsu” cho thấy tình trạng của một môn đệ đi theo Thầy mình tìm cách noi theo gương Chúa và cùng san xẻ số phận với Người. Điều đáng ngạc nhiên là ngoài những người đàn ông còn có những người phụ nữ “theo Chúa Giêsu”. Thánh Luca đặt để những môn đệ nam cũng như nữ trên một phương diện bình đẳng. Ông cũng nói đến những người phụ nữ đã lấy của cải mình mà giúp Đức Giêsu. Luca cũng nhắc đến tên của một số các nữ môn đệ này: Maria Mađalêna, sinh quán tại thành phố Magdala. Bà ta đã được chữa khỏi bảy quỷ ám. Gioanna, vợ của Cusa, viên quản lý của vua Hêrôđê, thủ hiến Galilê. Bà Susanna và những bà khác.
c) Phần phụ chú:
i) Phúc Âm viết bởi Luca luôn luôn được xem là Phúc Âm của phụ nữ. Thật thế, Luca là một trong những tác giả ghi lại các mối quan hệ của Chúa Giêsu với các phụ nữ nhất. Tuy nhiên, chuyện lạ là Tin Mừng liên quan đến các phụ nữ, không chỉ một cách đơn giản bởi vì có nhiều các điều ghi chép về sự hiện diện của họ chung quanh Chúa Giêsu, nhưng trong thái độ của Chúa Giêsu đối với họ. Chúa Giêsu động chạm đến họ, cho phép họ động chạm vào Chúa, mà không sợ bị ô uế (Lc 7:39; 8:44-45, 54). Sự khác biệt giữa Chúa Giêsu và các bậc thầy thời ấy là Chúa Giêsu chấp nhận phụ nữ là các tín đồ và môn đệ (Lc 8:2-3; 10:39). Sự giải phóng của Thiên Chúa, qua các việc làm của Chúa Giêsu, nâng cao phụ nữ đảm nhận vị trí đúng nhân phẩm của họ (Lc 13:13). Chúa Giêsu cảm thông được sự đau khổ của bà góa và chia xẻ nỗi buồn của bà (Lc 7:13). Công việc của người phụ nữ là nấu nướng, được Chúa Giêsu xem như là một dấu hiệu của Nước Trời (Lc 13:20-21). Người góa phụ kiên trì tranh đấu cho quyền lợi của bà được trình bày như là một mô thức cầu nguyện (Lc 18:1-8), và ngươi góa phụ nghèo đã chia xẻ những đồng xu ít ỏi của mình với người khác được xem như là một kiểu mẫu cho quà tặng và sự cống hiến (Lc 21:1-4). Vào thời điểm khi nhân chứng là các phụ nữ chưa được xem là có giá trị, Chúa Giêsu lại chọn các bà là những người làm chứng cho cuộc tử nạn của Chúa trên thập giá (Lc 23:49), việc mai táng (Lc 23:55-56) và sự phục sinh của Người (Lc 24:1-11, 22-24).
ii) Phúc Âm ghi lại những danh sách khác nhau tên của mười hai môn đệ đi theo Chúa Giêsu. Tên của những người này không luôn luôn giống nhau, nhưng luôn luôn có mười hai tên, tượng trưng cho mười hai chi tộc của dân riêng mới Thiên Chúa. Cũng có những người phụ nữ đi theo Chúa Giêsu, từ đất Galilê đến Giêrusalem. Phúc Âm của thánh Mác-cô xác định thái độ của các bà trong ba động từ: theo sau, phục vụ, tiến về Giêrusalem (Mc 15:41). Các thánh sử đã không ghi ra hẳn một danh sách các người nữ môn đệ đi theo Chúa Giêsu, nhưng tên của họ được biết cho đến ngày hôm nay qua các trang Tin Mừng, đặc biệt là của thánh Luca, và họ là: Maria Mađalêna (Lc 8:3; 24:10); Gioanna vợ của Cusa (Lc 8:3); Suzanna (Lc 8:3); Salômê (Mc 15:45); Maria mẹ của Giacôbê (Lc 24:10); Maria, vợ của Klê-pha (Ga 19:25); Đức Maria, Mẹ của Chúa Giêsu (Ga 19:25).
6. Lời nguyện: Bài thánh ca Tình Yêu (1Cr 13:1-13)
1 Giả như tôi có nói được các thứ tiếng của loài người và của các thiên thần đi nữa -- mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng khác gì thanh la phèng phèng, chũm choẹ xoang xoảng. 2 Giả như tôi được ơn nói tiên tri, và được biết hết mọi điều bí nhiệm, mọi lẽ cao siêu, hay có được tất cả đức tin đến chuyển núi dời non -- mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng là gì.
3 Giả như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí, hay nộp cả thân xác tôi để chịu thiêu đốt -- mà không có đức mến, thì cũng chẳng ích gì cho tôi. 4 Đức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, 5 không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, 6 không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật. 7 Đức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả . 8 Đức mến không bao giờ mất được. Ơn nói tiên tri ư? Cũng chỉ nhất thời. Nói các tiếng lạ chăng? Có ngày sẽ hết. Ơn hiểu biết ư? Rồi cũng chẳng còn. 9 Vì chưng sự hiểu biết thì có ngần, ơn nói tiên tri cũng có hạn. 10 Khi cái hoàn hảo tới, thì cái có ngần có hạn sẽ biến đi.
11 Cũng như khi tôi còn là trẻ con, tôi nói năng như trẻ con, hiểu biết như trẻ con, suy nghĩ như trẻ con; nhưng khi tôi đã thành người lớn, thì tôi bỏ tất cả những gì là trẻ con. 12 Bây giờ chúng ta thấy lờ mờ như trong một tấm gương, mai sau sẽ được mặt giáp mặt. Bây giờ tôi biết chỉ có ngần có hạn, mai sau tôi sẽ được biết hết, như Thiên Chúa biết tôi.
13 Hiện nay đức tin, đức cậy, đức mến, cả ba đều tồn tại, nhưng cao trọng hơn cả là đức mến.
7. Lời Nguyện Kết
Lạy Chúa Giêsu, chúng con xin cảm tạ Chúa vì những Lời của Chúa đã trao ban để giúp chúng con có thể hiểu cặn kẽ hơn Thánh ý của Chúa Cha. Nguyện xin Chúa Thánh Thần soi sáng cho những việc chúng con đang làm và ban cho chúng con sức mạnh để chúng con có thể thực thi những Lời Chúa đã tỏ cho chúng con. Chúng con nguyện xin được giống như Đức Maria, mẹ Người, không những chỉ lắng nghe mà còn thưc hành Lời Chúa. Chúa là Đấng hằng sống hằng trị cùng với Đức Chúa Cha trong sự hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn thuở muôn đời. Amen.
về tác giả và dịch giả:
Các bài viết Lectio Divina cho nhóm tác giả; Lm. Carlos Mesters, O.Carm. Nt. Maria Anastasia di Gerusalemme, O.Carm., Lm. Cosimo Pagliara, O.Carm. Nt. Maria Teresa della Croce, O.Carm. Lm. Charlò Camilleri, O.Carm. Lm. Tiberio Scorrano, O.Carm. Nt. Marianerina De Simone, SCMTBG và lm. Roberto Toni, O.Carm., Dòng Cát Minh biên soạn. Bản dịch tiếng việt do Cô Martha Nhung Trần thực hiện. Tác giả và dịch giả giữ bản quyền.
-350.frontimage.jpg)


