MAGNIFICAT

magnificat.jpg

(Lc 1: 46b-55)

Bản văn

[2]

46b      "Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa,
47        thần trí tôi hớn hở vui mừng
            vì Thiên Chúa, Đấng cứu độ tôi.
48        Phận nữ tỳ hèn mọn,
            Người đoái thương nhìn tới;
            từ nay, hết mọi đời
            sẽ khen tôi diễm phúc.
49        Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi
            biết bao điều cao cả,
            danh Người thật chí thánh chí tôn !
50        Đời nọ tới đời kia,
            Chúa hằng thương xót những ai kính sợ Người.
51        Chúa giơ tay biểu dương sức mạnh,
            dẹp tan phường lòng trí kiêu căng.
52        Chúa hạ bệ những ai quyền thế,
            Người nâng cao mọi kẻ khiêm nhường.
53        Kẻ đói nghèo, Chúa ban của đầy dư,
            người giàu có, lại đuổi về tay trắng.
54        Chúa độ trì Ít-ra-en, tôi tớ của Người,
55        như đã hứa cùng cha ông chúng ta,
            vì Người nhớ lại lòng thương xót
            dành cho tổ phụ Áp-ra-ham
            và cho con cháu đến muôn đời."

1.     

Bài hát của mọi thời đại

Trong tông huấn Marialis Cultus, Đức Giáo Hoàng Phao-lô VI viết: “Magnificat là lời cầu nguyện tuyệt vời của Mẹ Maria, bài ca ngợi khen của những thời khắc cứu tinh (messianic) nơi hòa chung niềm vui của Israel cựu và tân. Nơi bài ca này lại vang lên một lần nữa niềm hân hoan của Abraham là người đã được thấy ngày của Đấng Cứu Tinh (Gioan 8:56) và vang lên một cách tiên tri tiếng nói của Hội Thánh. Bài ca của Đức Trinh Nữ đã trở thành lời cầu nguyện của Hội Thánh trong mọi thời đại.” (số 18) Maria hiện thân như sự hoàn tất của Israel. Magnificat vừa là một bài ca cá nhân vừa là bài ca Hội Thánh. Magnificat được xem là một bản văn nền tảng, cầu nối giữa Cựu và Tân Ước, giữa Israel và Hội Thánh.

Ngay từ đầu, cộng đoàn Kitô hữu đã công nhận tầm quan trọng của bài ca này. Thật sự đây là một bài ca Hội Thánh được đặt lên môi miệng Mẹ Maria và qua đó cộng đoàn, hợp tiếng của mình với tiếng của Mẹ Đức Giêsu, không ngừng lặp lại trong dòng thời gian.

Trong truyền thống Đông Phương Bizantine, từ cổ xưa, Magnigicat là một phần kinh sáng được cử hành trọng thể mỗi ngày. Để đánh dấu sự trọng thể, cộng đoàn đứng đọc hoặc hát, có xông hương trước khi đọc Thánh Vịnh cho kinh sáng. Các giáo hội Armena và Maronia cũng thêm Magnificat vào kinh sáng.

Nơi giáo hội La-tinh, từ thế kỷ V hoặc VI, Magnificat được hát mỗi ngày trong phần cuối kinh chiều. Bản luật của thánh Biển Đức, viết tại tu viện Montecassino (nước Ý) khoảng năm 530, cung cấp chứng từ cổ xưa nhất cho việc thực hành này.

Ngay từ những ngày đầu tiên của Kitô giáo cho đến hôm nay, có nhiều quan tâm đến Magnificat, ngay cả ngoài khung cảnh phụng vụ. Cách riêng là âm nhạc, Magnificat được phổ nhạc dưới nhiều thể loại, trở thành thịnh hành, làm tăng thêm lòng sùng mộ nơi dân Chúa.

Nếu trong chiều dài lịch sử Magnificat là bài ca được chú trọng nhiều trong các lãnh vực phụng vụ, âm nhạc, tâm linh thì cuối thế kỷ trước Magnificat đã trở thành đối tượng nghiên cứu phê bình-chú giải không những của thần học mà còn của khoa xã hội – chính trị học nữa. Bên cạnh đó, lòng sùng kính bình dân tiếp cận với Magnificat với một sự nhảy cảm mới và trưởng thành ngang qua những biến đổi sâu xa trong thời đại chúng ta.

Bài ca của Đức Trinh Nữ bây giờ là tổng hợp và cụ thể hóa những thánh thi cổ về cuộc giải phóng của dân Thiên Chúa, đã đi theo họ trong các giai đoạn quan trọng nhất của lịch sử cứu độ.

Các nhân vật nữ như Mariam, Debora, Giuditta… là những cộng tác viên của Thiên Chúa trong các biến cố quyết định về tương lai của dân Cựu Ước. Một tương lai được chờ đợi và hi vọng mãnh liệt sẽ có một người nữ khác – Maria Nazareth – hát lên cùng với cộng đoàn tín hữu về ơn cứu độ chắc chắn. Maria đã không làm thất vọng sự mong đợi này và đã cống hiến một khuôn mẫu môn đệ của Đức Giêsu cho thời đại chúng ta.

 2.      Bài ca độc nhất

 Có nhiều bài thánh thi trong các tác phẩm Tin Mừng của Luca, chẳng hạn Benedictus và Nunc Dimitis là những bản văn có ý nghĩa thần học quan trọng. Nhưng không có bài thánh thi nào phổ biến và hấp dẫn như Magnificat. Magnificat đã trở thành bản quy điển từ những thế kỉ đầu. Điều quan trọng trong Magnificat là việc trình bày Maria như tớ nữ và người nghèo của Đức Chúa. Đặc điểm này giúp dân chúng dễ tìm thấy sự đồng cảm và gắn bó với Maria. Chiều kích ngôn sứ của Maria thể hiện ở việc Maria giống như phát ngôn viên cho cộng đoàn về niềm tin, sự vâng phục đối với Lời Chúa. Maria là mẹ Con Thiên Chúa và cũng là hình ảnh đặc biệt  cho tín hữu trong ơn gọi môn đệ Thầy Giêsu. Mẹ là một người đã tin. Cộng đoàn tín hữu vừa ca tụng Thiên Chúa nơi Mẹ qua đặc ân thánh mẫu của Mẹ vừa ngưỡng mộ noi gương niềm tin vững chắc thánh thiện của Mẹ.

So sánh với các nhân vật khác trong Luca như Zachariah, Elizabeth, Simeon và Anna, Maria xuất hiện trong một ánh sáng khá đa dạng. Chẳng hạn, cộng đoàn tín hữu mới không đồng hóa mình với Zachariah vì ông kém tin. Elizabeth thì khá hơn nhưng cũng là người đang chờ đợi điều kì diệu nơi Đức Trinh Nữ và màu nhiệm đang hoạt động trong Mẹ. Các nhân vật này làm thành một phần dân của lời hứa mà họ được đặc ân đại diện, nhưng họ không thuộc cộng đoàn của Giao Ước mới sẽ trở thành hiện thực trong liên hệ với Đức Kitô và màu nhiệm Vượt Qua của Người.

Tóm lại, Maria chiếm hữu một vị thế độc nhất vô nhị giữa các nhân vật Tân Ước, cách riêng nơi Luca 1-2, và Magnificat – được quy gán một cách hữu ý cho Maria – trở thành một đặc ân rõ ràng giữa các thánh thi Luca.

 3.      Bài ca của nhiều âm vang

 Trước hết, cần phải đọc Magnificat trong ngữ cảnh của nó: trong chuyến viếng thăm Elizabeth, nghĩa là giữa hai biến cố Truyền Tin và Giáng Sinh. Có một dòng chảy liên tục trong văn mạch: chuyến viếng thăm tiếp nối biến cố Truyền Tin và báo tin chuẩn bị cho biến cố Con Thiên Chúa giáng trần. Trong ngữ cảnh này, từ góc nhìn con người, Maria là nhân vật chính. Mẹ chính là đối tượng (vị ngữ) trực tiếp của lời chúc phúc được Elizabeth thốt lên và là chủ thể (chủ ngữ) hát bài ca Magnificat theo sau lời của Elizabeth. Maria là tớ nữ mà Đức Chúa cứu độ đã đoái thương chúc lành, giải thoát khỏi phận hèn. Phận hèn ở đây mang nhiều ý nghĩa tâm linh, chỉ tình trạng con người nhỏ bé trước Đấng Tạo Hóa quyền năng. Phận hèn còn chỉ điều kiện nghèo khó giống như tình cảnh của Abraham bên Ai Cập cũng như chỉ sự chờ đợi của những kẻ bé mọn nhất (anawim) trước ngưỡng cửa của thời đại Tân Ước.

Ngôn từ, chủ đề, cấu trúc của Magnificat đặt bài ca này vượt xa hơn bối cảnh hiện tại để đi vào trong nền lịch sử của cuộc Xuất Hành, cuộc Vượt Qua của Đức Kitô và cuộc giải thoát cánh chung. Magnificat nối kết lịch sử nhưng không dừng lại ở chính nó mà mở ra, chờ đợi ơn cứu độ trọn vẹn, triệt để nơi Thiên Chúa sẽ được thể hiện nơi Đức Kitô. Magnificat mô phỏng bài ca Biển Đỏ (Xh 15: 1-18). Thiên Chúa đoái thương phận hèn tôi tớ là Maria và Israel, không chỉ cho dân xưa mà cả những ai đang mong chờ ơn cứu độ dứt khoát (definite).

Dù mang những thuật ngữ liên hệ đến lịch sử xưa, tinh thần của Magnificat lại mới mẻ: với việc Đức Kitô đến, thời đại mới lên ngôi. Magnificat hát vang sự giải phóng đã đến và tuyệt đối không thể trở ngược lại được dù các hiệu năng của nó chưa thể hiện hết nơi trần thế. Kết quả là tiếng nói của Maria, dù mô phỏng bài ca Do Thái xưa, tiên báo và khai mở bài ca Hội Thánh của Đức Kitô về ơn cứu độ đã biến đổi tận căn lịch sử thế giới.

Magnificat là bài ca của Đức Trinh Nữ Maria được đặt giữa biến cố Truyền Tin và Giáng Sinh của Đấng Cứu Thế. Magnificat cũng là bài ca của Israel cuối cùng được Đấng Cứu Thế viếng thăm như Zachariah, Elisabeth, Simeon và Anna đã công nhận. Magnificat còn là bài ca của Hội Thánh biểu hiện niềm vui của mình trước hết nơi Mẹ Đức Chúa và rồi nơi mọi dân nước.

[3]

Nơi Maria, dân cũ và mới của Thiên Chúa tìm thấy điểm gặp nhau: Israel cùng dân ngoại làm nên Hội Thánh. Magnificat vì thế là bài ca vừa cá nhân vừa cộng đoàn: của nữ tì Thiên Chúa và của dân Người. Về cấu trúc, có sự chuyển động từ dạng số ít (câu 46 - 50) đến dạng số nhiều (câu 51-55). Sự khác nhau giữa hai phần này không chỉ nằm trong việc chuyển động ấy mà còn thể hiện ở chi tiết sau đây: phần một (câu 46-50) diễn tả một tương quan được thiết lập trên song đối là Thiên Chúa – tớ nữ (và những ai kính sợ Người) trong khi phần hai (câu 51-55) có một tam đối đầy chuyển động mạnh là Thiên Chúa – những kẻ quyền thế bị hạ xuống – những người bị áp bức được giải thoái. Ý nghĩa sâu xa hơn cần nói đến ở đây là: Maria hiện thân cho vận mệnh của cộng đoàn và diễn tả tiếng nói của cộng đoàn; nơi Mẹ, dân Giao Ước một cách nào đó tập hợp lại trước Thiên Chúa và hướng về ơn cứu độ của Người. Trinh Nữ Nazareth xuất hiện như một cá tính tập thể, cái riêng biểu hiện cái chung; lựa chọn và quyết định của Mẹ liên quan đến toàn thể cộng đoàn mà Mẹ thuộc về.

3.1.            Bài ca cổ và tân

 Magnificat là bài ca cổ vì có sử dụng chất liệu Cựu Ước. Magnificat là bài ca tân vì thể hiện sự hoàn thành vui mừng của lời Thiên Chúa hứa. Magnificat diễn tả chiều kích cánh chung theo hai góc nhìn sau: trong hy vọng cứu tinh chờ đợi ngày Thiên Chúa viếng thăm dân Người và từ viễn cảnh này – bị từ khước bởi Israel – Tân Ước trình bày những đặc tính của niềm hy vọng từ nay đã hoàn tất. Magnificat còn là bài ca cánh chung khi có ý nói đến biến cố Kitô, một biến cố mặc dù là triệt để trọn vẹn, vẫn chờ đợi một “trời mới – đất mới” đang được phát triển và hoàn tất vào ngày cuối cùng. Nói cách khác, ta đang sống trong cái “đã mà chưa” của ơn cứu độ. Giữa một thế giới còn đổ vỡ vì bạo lực và tội lỗi, bài ca của Đức Trinh Nữ cần được vang lên không ngừng công bố cuộc cách mạng của Thiên Chúa.

 

3.2.           

Bài ca mang tính lịch sử - cứu độ

 

Magnificat là bài ca phụng vụ hay bài ca giải phóng mang tính chính trị - xã hội? Dưới ánh sáng cứu độ của Thiên Chúa trong lịch sử, hai phương diện này bổ túc và hỗ tương.

Phụng vụ quả thực là việc tưởng nhớ hữu hiệu và cử hành của các biến cố cứu độ, luôn gồm chứa một yếu tố Xuất Hành – Vượt Qua không thể tránh được. Cử hành phụng vụ là dấu chỉ rằng thực sự ơn cứu độ đã hoàn tất (Cf. Xh 3:12)

[4]

. Vì thế, sẽ thật xa lạ với nhãn quan Kinh Thánh khi tách rời yếu tố thờ phượng và hành vi phụng vụ ra khỏi lịch sử mà chúng chỉ về, tưởng nhớ đến. Magnificat tuyên xưng mạnh mẽ Thiên Chúa là Đức Chúa, Đấng Giải Thoát quyền năng, Đấng hạ bệ những kẻ quyền thế kiêu căng và nâng dậy từ bùn đất những người nhỏ bé yếu đuối. Việc chủ đạo cứu độ của Thiên Chúa và điều kiện nghèo hèn (của Maria và Israel) được viết một cách sâu xa và rõ nét trong Magnificat. Đọc Magnificat theo nghĩa xã hội học, chính trị hoặc triết học mà không có yếu tố thần học lịch sử nghiêm túc sẽ dẫn đến khập khiễng. Maria không phải là một anh thư hay siêu nhân mà là một con người đã được giải thoát khỏi phận hèn và đã cộng tác với Thiên Chúa, công bố ơn cứu độ của Người. Để trở thành “những người (cộng tác) cứu độ”, cần phải được cứu độ trước, đã sống màu nhiệm Vượt Qua, đã làm cho Vượt Qua được tưởng nhớ, và đặt mình vào việc phục vụ kế hoạch của Thiên Chúa.

 3.3.            Bài ca Giáng Sinh hay Phục Sinh?

 Theo ngữ cảnh viết, một phần của các cuộc truyền tin và một phần của những cuộc sinh ra đã cấu thành một sách gập gồm hai tấm (diptych, dittico). Được đặt lên môi miệng Maria trong bầu khí ấy, bài ca chỉ có thể gợi lên một bầu khí Giáng Sinh. Nhưng khi vừa đi xa hơn cấu trúc viết, ta sẽ nhận thấy có nhiều yếu tố chung với các thánh vịnh và thánh thi giải phóng. Magnificat cử hành biến cố Kitô, được bắt đầu từ cuộc Vượt Qua là biến cố có ý nghĩa cứu độ trải dài đến tận sự hạ sinh là người của Đấng Cứu Thế. Các câu chuyện trong Tin Mừng thơ ấu là các bản văn Vượt Qua phản ánh trên sự sinh ra và thơ ấu của Đức Kitô vinh quang và quyền năng của Đấng Phục Sinh. Các thánh thi của Luca 1-2 được đọc trong cái nhìn như thế.

Có một điều lạ là sau biến cố Truyền Tin về việc làm mẹ khác thường cũng như sau lời ca khen của Elizabeth về hài nhi trong dạ Maria, tên của hài nhi sắp sinh không được nêu ra ngoại trừ những tước hiệu (Messiah, Con Thiên Chúa), kinh nghiệm làm mẹ cũng không được trao đổi. Thay vào đó là các ngôn từ diễn tả sự can thiệp của Đấng Toàn Năng để bảo vệ những kẻ bé mọn được giải phóng khỏi bọn quyền thế. Bởi vậy, Magnificat là một bài ca giải phóng và chiến thắng vì với cuộc Vượt Qua của Đức Kitô, “thủ lãnh thế gian” bị tống ra ngoài” (Gioan 12: 31) và những người bị giam cầm được giải thoát. Tất nhiên, cho đến ngày cuối cùng, dân Thiên Chúa vẫn còn bị tác động bởi những thách đố từ phía ma quỷ, nhưng ta không thể nghi ngờ chiến thắng của Đức Kitô và cùng với Người Con này là người Mẹ đã cưu mang và sinh hạ; người mẹ này, theo chương 12 của sách Khải Huyền, đại diện cho Hội Thánh và một cách gián tiếp đại diện cho Mẹ Đức Giêsu.

Magnificat hay được đọc dưới ánh sáng của bài ca Anna, mẹ của Samuel (1Sam 2, 1-10)

[5]

. Sau biến cố Biển Đỏ, chủ đề bài ca Biển Đỏ (Xh 15) cử hành cuộc giải phóng Vượt Qua được tái hiện không ngừng gồm nhiều phần, một phần được quy gán cho Anna. Trong các thánh thi cộng đoàn, có nhiều phụ nữ phi thường đóng vai chính như Maria chị của Mô-sê, Debora và Giuditta. Magnificat cần được đọc trong bầu khí nối kết với các nhân vật anh thư này.

Bài ca chiến thắng của Giuditta – người phụ nữ Giu-đa – làm nên một phần bản văn về cuộc thăm viếng của Mẹ Maria tại nhà Elisabeth. Những lời ca ngợi của Elizabeth đối với Maria dội lại âm hưởng một thời của Giuditta.

Bài ca của Đức Trinh Nữ là tưởng nhớ về những cuộc can thiệp vĩ đại của Thiên Chúa nơi Israel, là cử hành hiện tại của ơn cứu độ đã hoàn tất nơi Đấng Cứu Thế Kitô, là lời ngôn sứ về một tương lai nơi sự toàn thắng của Thiên Chúa sẽ biến đổi mọi sự.

 3.4.            Bài ca mang tính “thần học” và mang tính Maria

 Magnificat là bài ca thần học hay Maria? Một lần nữa, ở đây ta không thể đối lập hai khía cạnh này mà cần công nhận sự hòa điệu và hội tụ.

Bài ca này là của Đức Trinh Nữ vì sự quy gán cho Mẹ ở ngôi thứ nhất và hơn nữa vì đã kể lại câu chuyện của phận hèn tớ nữ Thiên Chúa của Mẹ. Tuy nhiên, là mội bài ca điển hình cho những người nghèo hèn, Magnificat không chỉ thuộc về riêng Đức Maria. Trong Magnificat có sự phản ánh kinh nghiệm nền tảng của dân giao ước và của cộng đoàn các môn đệ Đức Kitô. Theo nghĩa đó, Maria hầu như tan biến và hòa chung vào dân Thiên Chúa. Trong bài ca này, Mẹ không bao giờ được nêu tên, cũng như tên của Người Con của Mẹ không được đề cập đến. Maria không được trình bày ngay cả bằng đại từ ngôi thứ nhất, bằng “tôi” trực tiếp, mà ẩn giấu đàng sau công thức “linh hồn tôi…thần trí tôi” (c.46b-47).

Magnificat là bản văn nổi bật tính thần học - cứu độ học: trong lời đáp lại những ca ngợi của Elizabeth, Maria ca ngợi Đức Chúa. Theo cách diễn tả của thánh Louis Maria de Montfort, Mẹ xuất hiện như “tiếng vọng của Thiên Chúa… Nếu bạn nói về Maria, Mẹ lặp lại Thiên Chúa.”

[6]

Ngay từ đầu của Magnificat, Thiên Chúa là đối tượng của lời ca ngợi: tớ nữ khiêm hạ tán dương và hân hoan trong Người, Đấng Cứu Độ của mình. Đây là tựa đề chính và động lực của Magnificat, là điệp khúc có thể được lặp đi lặp lại cho mỗi câu. Lời tuyên xưng sau các hành động và đặc tính của Thiên Chúa nói lên cung điệu của bài ca, đó là: tôn vinh Thiên Chúa và hớn hở trong ơn cứu độ của Người. Magnificat là ca tiếp liên trọng thể, một thánh thi hộ tống bài ca vĩ đại, rộng mở của Biển Đỏ và các thánh vịnh giải phóng làm hiện thực hóa ký ức, tựa như khúc Halleluia lớn của phụng vụ Vượt Qua (Tv 136) và thánh vịnh kết luận của khúc Halleluia nhỏ (Tv 118), được lặp đi lặp lại trong các lễ lớn, đặc biệt là trong tiệc Vượt Qua.

Jean Dupont phát biểu Magnificat như là diễn văn về Thiên Chúa (comme discours sur Dieu): Thiên Chúa mà Magnificat cử hành về sự thánh thiện, lòng nhân từ và toàn năng là Đấng những ai kính sợ Người phục vụ… Thiên Chúa mà Mag cử hành là và mãi mãi là Thiên Chúa của Israel […] nhưng từ ơn cứu độ được ban cho dân Người, Người đã muốn rằng tất cả nhân loại không phân biệt nguồn gốc chủng tộc đều được thông hưởng….Thiên Chúa của Magnificat không xa với thực tại xã hội – chính trị mà ở giữa những người nghèo hèn, thấp cổ bé miệng… Magnificat không đưa ra một định nghĩa nào về Thiên Chúa. Magnificat chỉ nói đến Thiên Chúa trong hành động dưới những phương diện khác nhau của việc can thiệp cứu độ được khởi sự từ biến cố Truyền Tin mà Luca trình bày Maria như nhân chứng đầu tiên…”

[7]

 Tóm tắt:

       Bài ca Magnificat thể hiện một cách không trừu tượng những đặc điểm của Thiên Chúa Cựu Ước sẽ được mạc khải tròn đầy như là Cứu Chúa nơi Đức Giêsu Kitô.

      Magnificat là bản văn thần học nổi bật và cũng là bản văn Maria. Đức Trinh Nữ của Magnificat là địa chỉ đầu tiên của ơn cứu độ của Thiên Chúa nơi Đức Kitô, và bởi đó cũng là chứng nhân đầu tiên, người công bố lòng nhân hậu và sự giải phóng của Thiên Chúa không ngơi. Vì là địa chỉ và nhân chứng đầu tiên của các ân sủng vô tiền khoáng hậu, Mẹ là đối tượng của lời chúc phúc mãi ở trên môi miệng nhiều người – như Elizabeth – đã được giới thiệu vào trong màu nhiệm qua thiên chức là mẹ và qua đức tin của Maria.

Thiên chức làm mẹ của Maria là dấu chỉ can thiệp cánh chung của Thiên Chúa trong thân xác và lịch sử chúng ta. Đức tin của Maria là sự đón nhận mầu nhiệm cách vô điều kiện. Các thế hệ sẽ ca tụng Mẹ diễm phúc về những điều này.

 

CÁC PHƯƠNG PHÁP CHÚ GIẢI VỀ MAGNIFICAT

 

1.     

Thể văn của Magnificat (genere letterario, literary genre)

 

Tác giả H. Gunkel, người tiên phong và bậc thầy về nghiên cứu các thể văn của Cựu Ước, đã dành tâm sức cho hai thánh thi của Tin Mừng thơ ấu theo Luca: Magnificat va Beneditus.

Các thể văn, theo Gunkel, được xác định từ các yếu tố thường hằng (constant) – hoặc hình thức hoặc nội dung – cho ta biết một bản văn cùng các đặc tính chính của nó thuộc nhóm nào.

Trong các tác phẩm thi ca giống nhau, không cần tìm kiếm yếu tố riêng biệt và cá nhân trước tiên, nhưng cần tìm các yếu tố cấu thành chúng trong một thể loại văn chương. Điều này quan trọng cho việc hiểu các thánh thi Luca được quy gán cho nhân vật cụ thể nhưng lại diễn tả không đầy đủ tình cảnh của nhân vật ấy. Các thánh thi Luca trong phần Tin Mừng thơ ấu, từ góc nhìn thể văn, không phải là mới mẻ mà là một phần trong truyền thống lâu đời, chẳng hạn của truyền thống các thánh vịnh. Chúng có nhiều nhiều điểm chung với các thánh vịnh Cựu Ước; ngôn ngữ cũng mang đậm tính Do Thái.

Theo ý kiến của Gunkel, Magnificat có thể đã là thánh thi cánh chung (inno escatologico) có nguồn gốc Do Thái mà một tác giả Kitô giáo đã giới thiệu vào bản văn với một vài điểm nhỏ được thêm vào. Thật vậy, Magnificat tái tạo các đặc điểm của thánh thi loại này, dù rằng phần dẫn nhập (c. 46b-47) có vẻ không quen thuộc lắm trong các thể văn ấy và phần kết luận (c.55) với việc gợi lại các tổ phụ chỉ thỉnh thoảng tìm thấy ở trong các thi ca Thánh Kinh. Đặc điểm căn bản của loại thánh thi này là cử hành về Thiên Chúa cũng như các hành động của Người, giống như diễn tiến chính xác trong phần trung tâm của Magnificat.

Nếu đối với Gunkel Magnificat là một thánh thi (inno, hymn) thì đối với các tác giả khác Magnificat là một bài ca (canto) tạ ơn được trình bày theo một cấu trúc gồm 3 phần giống như thánh thi: dẫn nhập, thân bài và kết luận, dù rằng việc mở rộng của các phần riêng có khác nhau ở một mức độ nào đó theo ý các tác giả.

Nhưng chính Gunkel và những ai theo ông trong lĩnh vực nghiên cứu các văn thể không xác định cách đầy đủ một dữ kiện quan trọng là: có sự hòa trộn của các cấu trúc văn chương trong thời kì sau lưu đày và Tân Ước. Hiện tượng này cũng được tìm thấy trong Magnificat nhưng ở dạng tinh tế hơn so với văn chương đương thời. Trong bản Magnificat có thể hiện một cấu trúc được tổ chức chặt chẽ hơn và mang dáng dấp của thơ thánh (poesia sacra) thời đó. Ngoài ra, cũng có các dấu tích căn bản của những thánh vịnh quy điển và từ ngữ còn giữ được sự đa dạng, phong phú của các thánh vịnh này.

Trong ngữ cảnh như thế, bất cứ việc xếp loại cứng nhắc nào cũng đều có nguy cơ trở thành phiến diện (unilaterale, một chiều) và ít tôn trọng bài ca (Magnificat). Cần phải công nhận rằng các thể loại thuần túy (không pha tạp) là hiếm thấy trong thơ quy điển (poesia canonica), đặc biệt trong thời Tân Ước.

Như Gunkel ghi nhận, các văn thể pha tạp (generi misti) là khá phổ biến, cách riêng trong giai đoạn này, và tự bản chất chúng không phải là dấu hiệu của sự thoái hóa về văn phong (decadenza stilistica) nhưng thật ra là sự diễn tả trực tiếp hơn các điều kiện lịch sử - xã hội mà các bản văn được sinh ra trong đó. Vì thế, đây không phải là trường hợp dồn các thánh vịnh này vào một loại duy nhất hay một nhóm các loại; đúng hơn, đây là trường hợp phủ nhận rằng chúng có các đặc tính của những thể loại khác nhau. Thêm nữa, đặt một bản văn vào trong một khung cố định, nghĩa là không khảo sát kỹ bầu khí sống động cùng các chức năng của nó đối với nội bộ cộng đoàn từ đó nó xuất phát ra, sẽ làm giới hạn tầm quan trọng của việc đọc bản văn một cách toàn diện.

 

2.     

Ngữ cảnh hiện tại và môi trường ban đầu (gốc)

 

Quan hệ giữa Magnificat và ngữ cảnh trong dạng văn xuôi thành lập một điểm quan trọng cho việc hiểu bài ca này và chức năng của nó. Nói chung các bản văn của Luca 1-2 diễn tả một loại sùng kính (pietà) và não trạng thích ứng với các nhân vật được quy gán nhưng lại đi xa hơn bản thân các nhân vật ấy. Đàng sau các nhân vật ta thấy một cộng đoàn có cùng linh đạo. Các chứng tá quan trọng, các đối chiếu song song như sách Công Vụ Tông Đồ đưa ra cho thấy đời sống và loại hình sùng mộ đặc trưng của cộng đoàn Giêrusalem gốc: một điều kiện phản ánh tình trạng nghèo hèn của Israel, của những người bé mọn (ănawim) đã được sống động hóa và biến đổi bởi sự mới lạ của kinh nghiệm Kitô. Trong thực tế, có một khác biệt lớn giữa Magnificat và ngữ cảnh văn kể (narrativo) mà Magnificat được chèn vào. Sợi dây nối (legame) với ngữ cảnh này được bảo đảm bởi việc tái sử dụng một vài yếu tố, chẳng hạn: doúlè (nữ tỳ) trong (Luca 1:38, 48b)

[8]

và makaria-makarioúsin trong (Luca 1: 45, 48b)

[9]

. Trong phần thứ nhất, Magnificat có dáng vẻ một bài hát tạ ơn của một tỳ nữ được giải thoát cách đặc biệt khỏi tình trạng bất hạnh của mình, một bài hát mà nhiều người khi cầu nguyện thì nhận ra chính họ cách dễ dàng. Trong phần thứ hai (câu 51 trở đi), tách ra khỏi ngữ cảnh biên tập (redazionale), bài Magnificat hào hứng cử hành và nhấn mạnh sự can thiệp quyết định của Thiên Chúa trong việc bảo vệ những người nghèo khổ, bị áp bức khỏi tay những kẻ quyền thế. Ta có thể thấy thấp thoáng nơi Magnificat sự phong phú Kitô học nhờ vào ánh sáng của bản văn xuôi phủ trên bài ca này và nhờ vào việc đọc lại Magnificat một cách Vượt Qua đối với những biến cố liên quan đến việc hạ sinh của Đấng Messiah – Đức Chúa.

Chúng ta có thể nói rằng câu chuyện diễn tiến một cách xuôi chảy nếu không có mặt Magnificat. Từ câu 45 đến 56, sự chuyển tiếp có vẻ đều mạch và việc lặp lại tên Mariam ở cuối khung cảnh thăm viếng (sau lời của Elizabeth) cho thấy đoạn văn kết thúc bằng danh xưng Thân Mẫu Đức Chúa. Với khác biệt giữa Magnificat và ngữ cảnh biên tập, ta thấy có vấn đề về tác giả, môi trường sống, ngôn ngữ gốc của bài ca.

Về tác giả của Magnificat, có những giải pháp khác nhau được đề nghị. Chúng ta trình bày ngắn gọn như sau:

-         

Theo một số người, bài ca đã được soạn bởi nhân vật mà quyền tác giả được quy gán cho; vì thế, trong trường hợp này là Maria Nazareth. Đây là một quan điểm tiền phê bình (precritica), bỏ lơ sự đóng góp của cộng đoàn và biên tập viên (Luca) đối với sự ra đời, truyền tải và biên chỉnh các bản văn.

-         

Theo một số khác, Luca là tác giả hoặc của Magnificat hoặc của trình thuật dạng văn xuôi trong đó Magnificat được chèn vào. Điều này có nghĩa là bỏ lơ những điểm khác biệt đáng chú ý về văn phong và nội dung giữa bản văn mang tính thơ và ngữ cảnh hiện tại chúng ta mới đề cập đến.

-         

Với một số tác giả khác, Magnificat là một biên soạn mang tính Luca được chèn vào trong một chuyện kể Luca hoặc tiền Luca. Quan điểm này đi theo quan điểm trước nhưng ít được chấp nhận hơn.

-         

Cuối cùng, phần lớn các nghiên cứu cho rằng Magnificat là một thánh vịnh tiền hiện hữu mà Luca đã đưa vào chuyện kể với những điều chỉnh thích hợp. Giải pháp này xem ra là giải pháp duy nhất tôn trọng bài ca Magnificat và phần ngữ cảnh thể hiện nơi dạng văn xuôi mà, dù có những chỗ giao thoa, vẫn mang nét riêng biệt.

Kết luận như thế được dựa trên những đầu mối khác nhau liên quan đến ngôn ngữ, cấu trúc và thần học của bài ca.

Có không ít tác giả những thập niên đầu thế kỷ 20 đã tuyệt đối cho rằng Magnificat là một thánh vịnh Do Thái có ngữ cảnh gốc được nối kết với một biến cố quân sự hơn là một sự hạ sinh. Những người khác xem đây là một bài ca Do Thái – Kitô giáo. Thật vậy, không nên quên rằng Magnificat cử hành một biến cố phi thường, trong đó các lời hứa được thực hiện, cho dù hình thức và ngôn ngữ sử dụng có tính cổ xưa. (xem c. 55a)

[10]

Xem xét về nguồn gốc và ngôn ngữ, ta có thể khẳng định cách cốt yếu rằng bài ca mang dáng vẻ một biên soạn tiền Luca hoặc ít nhất không phải Luca, một dạng có khả năng thuộc về ngữ cảnh phụng vụ, trong một cộng đoàn có nguồn gốc Do Thái – Palestine. Ngôn ngữ cổ xưa, vì thế, không phải là tiếng Do Thái hoặc Aramaic [tiếng Đức Giêsu nói], chung gốc Semitic, như Gunkel đã chỉ ra (khác với ý kiến của A. von Harnack).

 

3.     

Magnificat và thơ thánh đương thời

 

Như đã nói, Magnificat có các giao điểm về nhiều mặt với thánh vịnh Do Thái, nhưng cũng có những nét riêng biệt không thể phủ nhận. Bài ca này có vẻ gần đối với thơ đương thời hơn là đối với các thánh vịnh quy điển, hoặc về văn phong hoặc về hoàn cảnh. Cách riêng, có một cấu trúc văn thể nhất định trong bài Magnificat mà ta tìm thấy ở các nơi khác, chẳng hạn những thể loại trong các áng thơ của Qumran, thánh vịnh và thơ ca ngợi của Salomon. Thuật ngữ của Magnificat thì ít biểu tượng (allusita) và rập khuôn (stereotipita) hơn, giữ lại được sự năng động và đa dạng của ngôn ngữ Kinh Thánh. Magnificat không chứa đựng các yếu tố mang tính khôn ngoan hoặc những phát triển mang tính dạy bảo thường được thấy nơi thơ đương thời, nhưng lại tôn vinh lịch sử cứu độ. Điểm khác biệt rõ nét nhất được thể hiện nơi niềm vui chảy suốt các trình thuật thơ ấu của Luca và bùng nổ nơi các bài ca như Magnificat. Một đặc điểm hân hoan như thế hiếm thấy ở nơi các bài ca Do Thái vốn mang đậm nét khổ đau, lo âu của các thời kì khó khăn.

Nếu so sánh với thơ Do Thái, Magnificat thể hiện các yếu tố mới mẻ trước các thánh vịnh Tân Ước – cách riêng văn chương Phao-lô và Khải Huyền – và mang nét cổ xưa. Các khác biệt này thấy rõ ở bình diện cấu trúc, ngữ vựng và nội dung.

Cấu trúc của Magnificat tái tạo lần nữa, dù không cứng nhắc, các hình thức của thánh vịnh Cựu Ước trong khi các thánh thi Tân Ước nhìn từ quan điểm này thì có vẻ khác nhau sâu sắc, không có các luật nối kết như trong thơ Do Thái. Thật vậy, các bài ca của Khải Huyền được rút từ truyền thống văn phong của các bài ca Israel nhưng với những đặc điểm khác biệt cách sâu xa.

Magnificat thể hiện một cấu trúc văn chương trung thành với thơ Kinh Thánh. Từ quan điểm này – tức là được xem như một thánh thi (inno), một bài ca tạ ơn hay một biên soạn theo thể loại huyền thoại – cũng đủ để nhận thấy dễ dàng 3 phần chính một cách tương đối: phần dẫn nhập, thân bài chính và kết luận, những yếu tố khá thường xuyên trong các thánh vịnh.

Phần dẫn nhập chạy từ câu 46b đến 47 song song với nhau và cung cấp cung điệu cho toàn bài ca. Ở đây, khác với những gì diễn ra trong phần còn lại của bài ca, chủ ngữ là doúlè (nữ tỳ) chúc tụng Đức Chúa và vui mừng về ơn cứu độ. “Tôi” (căn tính) của nữ tỳ nhường chỗ cho “linh hồn” và “thần trí” của Mẹ. Cách diễn tả dài chữ hơn một mặt nhấn mạnh tâm tình riêng của Mẹ cách đầy nhiệt huyết, tràng trọng, mặt khác thiết lập một dạng thức gián tiếp của việc xưng hô với Thiên Chúa trong đó người cầu nguyện hầu như biến mất để Thiên Chúa nổi bật lên ở vị trí trung tâm của bức tranh, đây là tâm thế (position) được giữ cho đến cuối bài ca.

      Phần thân bài chính được giới thiệu với từ “hóti” (vì) báo hiệu sự chuyển tiếp từ phần dẫn nhập sang phần thân bài, gồm từ câu 48 đến 53. Chủ ngữ của tất cả các động từ là Thiên Chúa, tác giả của những hành động cứu độ. Từ “hóti” chỉ xuất hiện nơi câu 48a và 49a, nhưng chúng có thể được lặp đi lặp lại, giống như trong các dạng kinh cầu (các thánh, chẳng hạn), tại đầu mỗi câu đơn, đều cho mục đích tôn vinh Thiên Chúa-Đấng Cứu Độ.

Xa hơn việc biểu hiện vị trí chủ ngữ cho các động từ, tầm quan trọng và trung tâm của Thiên Chúa còn xuất hiện nơi vị thế làm chủ của Người dành cho tỳ nữ và những ai kính sợ Người (cc. 48a-50), trên hết là nơi tương quan ba chiều gặp ở câu 52 và 53: Thiên Chúa đối lập và thắng vượt hoàn toàn trên những kẻ quyền bính tự kiêu trong khi đoái thương những người nghèo hèn bị áp bức.

Từ góc nhìn này, phần trung tâm của bài ca thể hiện hai diện mạo khác nhau và ta có thể dễ dàng chia ra thành hai phần nhỏ hơn:

-         

Câu 48-50: một tương quan song cực cho thấy một phía là Thiên Chúa luôn ở vị thế làm chủ tể, một phía là tỳ nữ đã được đoái nhìn đến cùng tất cả những ai kính sợ Người.

-         

Câu 51-53: cho thấy một tương quan tam cực giữa Thiên Chúa đối với những kẻ quyền bính và người bé mọn khổ đau qua việc đảo ngược (capovolgere) một cách triệt để thân phận của họ.

Trong khi phần đầu diễn tả các đặc điểm của bài ca tạ ơn thì phần hai cho thấy đặc tính thánh thi trong việc cử hành những hành động cứu độ của Thiên Chúa.

      Phần kết luận của các bài ca tạ ơn thì khá đa dạng trong khi nơi các thánh thi thì nó lại lấy nội dung của phần chính, hoặc là gợi lại dạng thức của phần dẫn nhập hoặc là kết thúc bằng cách cầu khẩn Thiên Chúa vui nhận lời ngợi ca. Phần kết luận của Magnificat thì theo dạng bất quy tắc, chắc chắn không phải là dạng hay gặp. Nó gồm câu 54-55 tạo thành một khối chặt chẽ và khép lại bài ca bằng cách trở về hình thức phân cực (polarità) của những câu dẫn nhập. Từ tương quan Thiên Chúa-tớ nữ, tương quan Thiên Chúa-Israel tôi tớ được tái diễn, hội tụ nơi bài ca của Đức Trinh Nữ, và vì thế nơi kinh nghiệm của ơn cứu độ Messiah, tất cả dòng dõi Abraham theo lời hứa đối với cha ông.

Bởi thế Magnificat là một bản văn phức hợp: không thể quy toàn bộ Magnificat cho thể văn của bài ca tạ ơn (canto di ringraziamento) cũng như thể văn của thánh thi mà Magnificat thể hiện một vài đặc điểm nào đó, cùng với những bất quy tắc. Cần phải khẳng định lại rằng các thể loại thuần túy là rất hiếm và thực tế không thể tìm thấy trong thời kỳ Tân Ước.

 4.      Các phân chia và phân tích khả thi đối với bản văn

 Nếu dưới ánh sáng của các thể loại văn chương, Magnificat thể hiện một sự phân chia gồm 3 phần, trên nền của cấu trúc và các phương pháp văn chương gần đây, bài ca mở ra những chiều kích và khía cạnh mới mẻ.

Trước hết bản văn thể hiện một sự thống nhất căn bản, được hỗ trợ bởi một chuỗi các động từ - thường trong mối liên kết với vị thế chủ ngữ của Gia-vê Thiên Chúa. Cung giọng của bài hát được diễn tả rõ ràng ngay từ đầu, nhờ các động từ tán dương khuếch đại (magnifica) và hớn hở reo mừng (esulta) chiếm ưu thế toàn bộ bản văn.

Đây là sự thống nhất năng động chứ không phải đơn điệu tĩnh lặng. Thật vậy, tính năng động này biểu hiện chính trong quan hệ hỗ tương giữa các phần với nhau, được hội tụ về một tâm điểm làm nên sự thống nhất cho bản văn. Câu 46b-47 tách ra khỏi phần còn lại qua một số đặc tính tràng trọng nhưng đồng thời chúng cũng là yếu tố quyết định cho sự thống nhất, qua chức năng hoạt động sau: phần dẫn nhập như phôi mầm gồm chứa tất cả bài ca.

Nhóm ngữ nghĩa (semantico) biểu thị sự vĩ đại chạy dọc suốt bài ca, không chỉ xét về nội dung mà còn về mặt cấu trúc nữa. Từ góc nhìn cấu trúc, thông điệp của bài ca Magnificat được gồm chứa và tập trung nơi tương quan từ megalúnei (magnifica, tán dương hết mình) của câu 46b và mega của câu 49.

      Chùm từ ngữ diễn tả niềm hân hoan – dù có vẻ ít hơn chút – cũng diễn tiến ngay từ đầu (egalliasen: câu 47) song song với nét vĩ đại và chiếm thế thượng phong trong bài ca cử hành ơn cứu độ của Thiên Chúa và hội vui của những ai được cứu độ. Đây là một hiện tượng thường thấy và có tầm quan trọng trong tác phẩm Luca: ơn cứu độ là lời hứa và điều kiện của niềm vui, niềm vui là dấu chỉ và hệ quả của kinh nghiệm cứu độ.

      Được nhấn mạnh ngay từ đầu với vị thế thượng phong, sự ngợi khen-tán tụng Thiên Chúa và niềm vui ơn cứu độ cung cấp một chìa khóa để đọc bài ca này. Tất cả những gì được công bố, khởi đi từ câu 48 – được giới thiệu bằng từ hóti (vì) – lập nên một động cơ-tưởng nhớ cho việc tỳ nữ cử hành và hân hoan trong Thiên Chúa Cứu Độ.

      Phần dẫn nhập có vẻ khác biệt với phần thân bài nhưng không phân chia khỏi bài ca: hai phần này không thể tách rời nhau mà hỗ trợ cho nhau. Lời ngợi khen vui mừng ở đầu sẽ không hoàn chỉnh nếu thiếu vắng các sự kiện được kể tiếp theo sau. Sự thiếu sắc thái vui tươi của thơ đương thời, ví dụ những loại ở Qumran, là do các khổ ải của thời hiện tại mà hướng về tương lai khi Thiên Chúa can thiệp bằng quyền năng để giải phóng các tôi trung của Người, lúc đó họ sẽ có thể cử hành chiến thắng chung cuộc của Người.

      Tuy sự thống nhất của phần trung tâm bài ca được khẳng định, qua sự hỗ trợ của chuỗi động từ bất định (aorist, aoristo) và sự liên tục của lược đồ nền tảng dựa trên trục vĩ đại-thấp hèn, cần phải vén mở sự đa dạng hiện hữu bên trong phần này. Bỏ qua các phân tích nhỏ có thể thấy ở những nơi khác, không thể không nhấn mạnh trục nối rõ rệt giữa hai phần, được cấu thành từ nhóm câu 48-50 và nhóm câu 51-53. Phần đầu tiên được đánh dấu bằng các can thiệp của Thiên Chúa-Đấng Cứu Độ dành cho tỳ nữ và những ai kính sợ Người. Phần hai, chuyển từ một liên hệ song đối (polare) sang một chiều kích tam đối (triadica) – được mở rộng đối với kẻ quyền thế tự tạo ra thế bạo lực trước Thiên Chúa và những người nghèo hèn – thể hiện một Thiên Chúa hùng mạnh, Đấng thiết lập quyền lợi của những người bé mọn, bị áp bức, bằng việc đảo lộn âm mưu thâm độc và hành động của kẻ thế quyền.

      Phần này (cc. 48-53) là phần trọng tâm không chỉ vì nó có vị trí ở giữa bài ca mà còn vì ý nghĩa của nó đối với toàn bài: phần dẫn nhập hướng đến nó, còn phần kết luận phụ thuộc vào nó.

Magnificat tóm lược và giải thích rõ ràng trong các câu 54-55 rằng bài ca của “nữ tỳ” (c.48) này cử hành không những ơn cứu độ của cá nhân Mẹ mà còn của Israel “tôi tớ” Thiên Chúa nữa (c.54), Israel theo nghĩa tinh thần, dòng dõi Abraham là những người đã tin như tổ phụ và Maria.

Vì thế, phần kết luận đưa ta vào một ngữ cảnh nhất định – tức là của dân Thiên Chúa – đến một bài ca mới đầu ở dạng cá nhân (số ít) dần dần mở rộng ra cho tất cả những ai kính sợ Thiên Chúa (c.50) và cả những kẻ đối lập không kính sợ Người (cc.51-53).

      Magnificat là bài ca của Maria và cộng đoàn giao ước từ đây mở ra cho mọi dân tộc. Cần để ý tính phổ quát của ơn cứu độ chứa đựng trong câu 48b (mọi thế hệ), câu 50 (mọi kẻ kính sợ Người) và câu 55 (Abraham và con cháu).

Các phân chia được các tác giả đề nghị cho Magnificat khá đa dạng. Theo phương pháp của Gunkel, có thể nhận diện một cấu trúc gồm ba phần, chưa quy gán cho bản văn này một thể văn cụ thể của dạng bài ca tạ ơn, thánh thi… Như đã lưu ý, đây là bản văn hỗn hợp hoặc ít nhất là không thuần túy (puro). Một cấu trúc ba phần như thế luôn có vị trí nền tảng và việc lượng giá nó là quan trọng. Nhưng chúng ta, trên cở sở phương pháp mang tính cấu trúc, muốn xem xét một sự phân chia có hai phần, gồm hai nhóm câu 46-50 và 51-55. Cách phân chia này là tương đối và mang tính bổ túc chứ không thay thế các cách phân chia khác.

 

46b         "Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa,

47           thần trí tôi hớn hở vui mừng

                vì Thiên Chúa, Đấng cứu độ tôi.

48           Phận nữ tỳ hèn mọn,

                Người đoái thương nhìn tới;

                từ nay, hết mọi đời

                sẽ khen tôi diễm phúc.

49           Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi

                biết bao điều cao cả,

                danh Người thật chí thánh chí tôn !

50           Đời nọ tới đời kia,

                Chúa hằng thương xót những ai kính sợ Người.

 

51           Chúa giơ tay biểu dương sức mạnh,

                dẹp tan phường lòng trí kiêu căng.

52           Chúa hạ bệ những ai quyền thế,

                Người nâng cao mọi kẻ khiêm nhường.

53           Kẻ đói nghèo, Chúa ban của đầy dư,

                người giàu có, lại đuổi về tay trắng.

54           Chúa độ trì Ít-ra-en, tôi tớ của Người,

55           như đã hứa cùng cha ông chúng ta,

                vì Người nhớ lại lòng thương xót

                dành cho tổ phụ Áp-ra-ham

                và cho con cháu đến muôn đời."

 

  4.1.            Phần đầu (cc. 46b-50)

 Phần đầu gồm nhóm câu 46b-50, tức là cũng gồm cả phần dẫn nhập (cc.46b-47) là phần chủ sự đối với toàn bài ca, nhưng nói trực tiếp đến những câu gần nó nhất, nhắm tới chữ doúlè (nữ tỳ), chủ ngữ ngầm chỉ trong các câu 46b-47 và vị ngữ của việc Thiên Chúa đoái nhìn cũng như của những điều trọng đại mà Người đã thực hiện (cc. 48-49). Cầu nối giữa phần dẫn nhập và phần đầu (từ câu 48) được thiết lập trên sự liên lạc của hai nhân vật hiện diện trong bức tranh: doúlè – người công bố bài ca và là địa chỉ của việc can thiệp cứu độ - và trên hết là Thiên Chúa, trước tiên được trình bày như là vị ngữ (đối tượng) của bài ca và rồi sau đó trở thành chủ ngữ (chủ thể) của hành động cứu độ: Đấng Cứu Độ quyền thế, thánh thiện và giàu lòng từ bi.

Cầu nối này cũng đến từ các dấu chỉ về thứ tự có tính văn chương và cấu trúc. Cần nhấn mạnh từ hóti (vì) chứng thực cho phần dẫn nhập – trong trường hợp này là việc tán tụng Thiên Chúa, niềm hân hoan của tỳ nữ - và liên kết nó với những câu tiếp theo.

Một chuỗi diễn tả về sự vĩ đại, bao lấy và cung cấp ý nghĩa cho toàn bộ bài ca, không những rõ ràng mà cách nào đó còn khép lại phần đầu bằng những so sánh song song: Thiên Chúa được xưng tụng là vĩ đại (c.46) vì Người đã thực hiện những điều vĩ đại (c.49).

Một yếu tố quan trọng khác giúp thống nhất phần đầu và củng cố sự liên tục giữa phần dẫn nhập và các câu tiếp theo là các tước hiệu thần linh: trong các câu 46b-47 Thiên Chúa được trình bày như Đức Chúa và Đấng Cứu Độ, không những được khẳng định ở phần đầu của bài ca mà còn được làm cho phong phú với những chiều kích khác. Sự việc Thiên Chúa nhìn xuống đối với tình trạng nghèo hèn của tỳ nữ cho thấy ngay rằng Người nhân từ và nhanh chóng cứu giúp dân Người (Xh 3:7tt). Ở đây thể hiện không phải chỉ là cái nhìn hoặc sự tốt lành đơn thuần mà là việc liên quan trực tiếp và chủ động, nhờ thế trạng huống nghèo hèn và bị áp bức được biến đổi trong kinh nghiệm hân hoan của tự do. Trong sự can thiệp này, Thiên Chúa tỏ mình ra là “Đấng Toàn Năng”, Đấng thực hiện những kì công. Sự hiệu quả của hành động Thiên Chúa thể hiện ở dữ kiện các động từ mô tả không ở thì tương lai, thậm chí không ở thì hiện tại, nhưng ở thì bất định (aoristo, aorist) là thì đệ nhất chứng tỏ cách rõ ràng rằng Đức Chúa đã hoàn thành ơn cứu độ. Sự biến đổi cụ thể và hiển nhiên đến nỗi từ bây giờ trở đi người nữ tỳ khiêm hạ, được cất nhắc khỏi tình trạng bất hạnh, sẽ được muôn thế hệ gọi là diễm phúc.

Một sự can thiệp như thế của Thiên Chúa xuất phát từ lòng nhân hậu của Người đối với doúlè, nhưng hơn nữa từ sự thánh thiện của Người: Người không thể cho phép danh Người cùng các chương trình của Người bị mờ nhạt (offuscati) và giảm giá trị bởi bạo lực và lấn chiếm của kẻ quyền thế. Giavê-Đấng Cứu Độ là một vị Thiên Chúa của lòng từ bi vô hạn, nhưng mạnh mẽ và thánh thiện, muốn vinh quang của mình thể hiện nơi con cái Người. Khi hoạt động nơi nữ tỳ, Thiên Chúa thiết lập một tiêu chuẩn (parametro) hành xử của Người đối với tất cả những ai kính sợ Người. Nhưng ta thấy ở cuối bài ca Magnificat, đối tượng của việc can thiệp nhân hậu của Thiên Chúa sẽ là dòng dõi Abraham, gia đình thiêng liêng xuất phát từ lòng tin của tổ phụ này, mà Maria là đại diện chân thật nhất.

Sự thống nhất của phần đầu vì thế thể hiện rõ trong những phát ngôn (articulazioni). Nhưng bài ca chờ đợi các phát triển khác sẽ được trình bày trong phần hai (cc.51-53) cho đến phần kết luận.

 4.2.            Phần hai (cc. 51-53)

 Xa hơn những phân chia, như đã nói, bản văn giữ được một sự thống nhất căn bản. Giống như phần thứ nhất, phần hai vẫn ở trong liên hệ với phần dẫn nhập dù theo cung cách ít trực tiếp hơn. Lời ca ngời và niềm vui được công bố nơi những câu đầu không chỉ nhìn vào doúlè và điều Thiên Chúa đã thực hiện nơi Mẹ mà còn những kẻ bé mọn đói khát bị đau khổ dưới ách thống trị của kẻ giàu có thế quyền áp bức (cc.52-53). Các động từ bất định của các câu 51-54 tiếp nối các động từ phần thứ nhất. Mối liên hệ rõ ràng và hữu ý cách đặc biệt giữa “Đấng Toàn Năng đã làm những điều cao cả”(c.49) và “Người giơ tay biểu dương sức mạnh” (c.51), dù rằng các hiệu ứng của việc Thiên Chúa can thiệp có tính chất đối kháng: trường hợp một là sự nâng dậy của doúlè, trường hợp hai là sự hạ bệ những kẻ kiêu căng. Sự nối tiếp cũng được biểu thị giữa tapeinosis (c. 48a) và tapeinoús (c.52b) giữa “tờ nữ của Người” (c.48a) và “Israel tôi tớ của Người” (c.54), cách riêng là giữa eleos (lòng nhân hậu) của Thiên Chúa trải dài trên “muôn thế hệ đối với những ai kính sợ Người” (c.50) và éleos muôn đời “đối với Abraham và dòng dõi” (cc.54b,55b).

Giữa hai phần không những tồn tại các yếu tố của sự nối tiếp mà còn các dữ kiện của sự mới mẻ và khác biệt làm nảy sinh năng động và phát triển mà không tổn hại đến sự thống nhất căn bản của bài ca, được nâng đỡ bằng trục vĩ đại – nhỏ bé với sự đảo lộn (capovolgimento) tình thế.

Trong câu 52-53, một nghệ thuật song đối như thế có vẻ được đặt vào trong một khủng hoảng, nhường chỗ cho một quan hệ tam đối (triadico) không tự nhiên và kín đáo (surrettizio) trong đó – bên cạnh sự vĩ đại của Thiên Chúa (Đấng vĩ đại duy nhất) và sự nhỏ bé của tỳ nữ (thân phận thụ tạo) – xuất hiện một sự vĩ đại mang tính lạm dụng và hồ đồ, một mặt có khuynh hướng phá hoại (insidiare, undermine) quyền tối cao (primato, primacy) của Thiên Chúa và mặt khác nổi lên chà đạp bằng bạo lực những người nghèo khổ. Nhưng tình hình này không thể được khoan dung: đó là một tấn công chống lại vinh quang Thiên Chúa và phẩm giá những tôi tớ Người. Đức Chúa không thể không can thiệp để thiết lập lại “công lý”. Như éleos của Thiên Chúa đã thống lãnh âm hưởng trong phần thứ nhất, ở đây krátos nổi bật lên, sức mạnh của bàn tay Thiên Chúa bảo vệ những người yếu đuối và chống lại những kẻ thống trị độc tài làm tổn hại uy quyền thuộc về một mình Thiên Chúa.

Với sự đa dạng của bức tranh này, trong phần thứ hai cũng có một thay đổi về cung giọng và phong cách. Các hành động của Thiên Chúa, có vẻ mang màu sắc anh hùng chiến tranh, được đánh dấu bằng một sức mạnh làm đảo lộn tình thế. Ngôn ngữ của bài ca cũng được đánh dấu bằng cung điệu mang tính chiến tranh đầy mạnh mẽ, gồ ghề những tương phản. Tại trung tâm của phần hai, một dòng thác ấn tượng của những tương phản ở các mức độ khác nhau, với mục đích duy nhất là tôn vinh sức mạnh của Thiên Chúa – chủ thể của tất cả những hành động cứu độ - và sự giải phóng người nghèo khổ khỏi kẻ áp bức.

Sau những tương phản dữ dội trong các câu 52-53, bài ca cách nào đó lắng xuống tập trung vào Israel, tôi tớ Giavê, đã được lòng thương xót của Thiên Chúa giải phóng theo lời hứa dành cho Abraham cùng dòng dõi ông.

Với Israel tôi tớ Thiên Chúa (c.54) – song song với tỳ nữ của Đức Chúa (c.48) – ta được đưa trở lại khung song đối cơ bản, và với việc tái khẳng định lòng nhân hậu Thiên Chúa, chủ đề này được nhắc lại không chỉ để khép lại phần thứ nhất (c.50) và phần thứ hai (cc. 54-55) mà còn thiết lập chủ đề trung tâm của bài ca Magnificat.

 5.      Bối cảnh nền Kinh Thánh – Do Thái và các chủ đề của Xuất Hành

 Chỉ cần cầm trên tay một ấn bản khoa học của sách Tân Ước hoặc một chú giải của Tin Mừng Luca, ta sẽ nhận ra nhiều mối liên lạc của Magnificat với các nền văn chương Kinh Thánh và Do Thái. Đối với một số người, bài ca này có vẻ là tổng hợp của hàng trăm các bản văn cổ được điều chỉnh và cập nhật để diễn tả biến cố Messiah. Các bản văn cổ thường được đề cập đến theo nghĩa đen (alla lettera), không có dạng trích dẫn, với  nhiều loại sách viết theo một ký ức đầy chất Kinh Thánh. Ta lấy một ví dụ mà A. Robert gọi là “phong cách nhân học” (stile antopologico) nhờ đó tác giả đã khảo sát một cách tự do toàn bộ Kinh Thánh, tạo nên được một bức tranh mosaic gồm các lời ám chỉ, những nối kết và giải nghĩa tạo cho người đọc hứng thú đào sâu thêm bản văn. Ta có thể áp dụng điều này cho Magnificat ở một mức độ nào đó như M. Delcor xác định về Hodayot[11] của Qumran: “trong nhiều trường hợp, tác giả đã có sẵn trong đầu một lộ trình Kinh Thánh; còn các trường hợp khác thì tùy thuộc vào hoàn cảnh của độc giả mà tác giả dùng ít hay nhiều Kinh Thánh.”[12]

Được gợi lại thường xuyên trong văn chương và truyền thống trước đó, điều này đặt Magnificat vào cùng dòng chảy của nhiều thánh vịnh tưởng nhớ hành động vĩ đại của Thiên Chúa dành cho dân Người và biểu lộ những nét đặc trưng nền tảng trong cuộc Xuất Hành cũng như trong cuộc trở về từ lưu đày. Việc tưởng nhớ có tính lịch sử - cứu độ như thế, được hiện tại hóa trong các dịp cử hành văn hóa quan trọng của cả cộng đoàn giao ước, trong bài Magnificat, được một thành viên ưu tú là tớ nữ của Đức Chúa ca vang lên. Bởi vậy, Mẹ là phát ngôn viên của cả dân tộc, hợp với điều được nói đến ở cuối bài ca khi sử dụng cụm từ “Israel tôi tớ Người”; đối tượng của bài ca của Đức Trinh Nữ là lịch sử dân tộc. Magnificat không phải là một thánh vịnh đơn giản cho việc tạ ơn như những bài ca khác trong truyền thống Kinh Thánh, nhưng là một bài ca của cả cộng đoàn quy tụ quanh một nhân vật, một phụ nữ, người dẫn đường và đại diện cho cộng đoàn trước nhan Thiên Chúa. Magnificat được đặt vào dòng chảy và ở đỉnh cao (vertice) của các thánh thi cử hành về cuộc giải phóng, được xướng lên bởi những phụ nữ siêu việt và được dân tộc đang reo vui sau các can thiệp cứu độ tuyệt vời đồng thanh lặp lại.

Trong số các bản văn Cựu Ước, một bản có những liên hệ không thể phủ nhận với Magnificat là bài ca Anna (1Samuel 2:1-10; Cf. Sir 10:14-17) nhìn từ góc độ văn chương. Nhưng bài ca của mẹ Samuel đến lượt mình lại phụ thuộc vào một truyền thống anh hung ca của Xuất Hành và bài ca chiến thắng đi kèm. Magnificat, R. Le Déant nói, là  “một bài ca cứu độ theo nghĩa đặc biệt và bối cảnh cổ xưa của nó xem ra là một tưởng nhớ về cuộc giải phóng vĩ đại khỏi Ai Cập: có một vài thay đổi để thích ứng bài ca này cho một tình huống cá nhân. Trước hết nó được đặt trên môi miệng của toàn dân Israel, sau đó được dùng lại cho riêng Maria để cử hành ơn cứu độ Messiah.”

[13]

Ngay từ đầu, Magnificat đã là một bài ca cứu độ. Rồi Magnificat được nối kết lại với một truyền thống lâu đời của Cựu Ước đề cập đến nguồn gốc và ý nghĩa như thấy trong bài ca Biển Đỏ của Xuất Hành 15:1-18,21.

Như trong Xuất Hành, nó trình bày kinh nghiệm cứu độ đầu tiên và nền tảng của dân Chúa. Một người nữ, Mariam, chị Môsê, xướng ca bài thánh thi của những người được cứu độ, sau đó đến các người nữ như Debora, Anna, Giuditta… cũng hát lên những bài ca giải phóng được toàn dân lặp lại. Ý nghĩa thường nêu l ên sư cứu thoát khỏi kẻ thù như thấy trong Luca 1:71,

[14]

nhưng trong bầu khí Tân Ước cũng biểu thị sự giải thoát khỏi tội lỗi (Lc 1:77).

[15]

Bài ca của Maria được đặt trong bối cảnh nền này. Đó là lời ca tụng vĩ đại tôn vinh Thiên Chúa và diễn tả niềm vui dư đầy (esuberante) về ơn cứu độ cuối cùng đã được thực hiện bởi Đấng Thiên Sai thuộc dòng dõi David, Đức Kitô Cứu Chúa (Cf. Luca 1:32tt; 2:11).

[16]

Ơn cứu độ được vang lên trong Magnificat tất nhiên thuộc về Tân Ước nhưng đã được đợi chờ từ rất lâu qua các diễn tả tư tưởng của Cựu Ước, cách riêng là các bài ca giải phóng. Cách nói “đoái nhìn vận khổ” gợi lại các tình huống khác nhau của đau khổ-thử thách-ô nhục, hoặc ở mức độ cá nhân hoặc cộng đoàn, nhưng cách riêng là gợi nhắc kinh nghiệm nô lê Ai Cập. Trong hoàn cảnh ấy, con cái Israel lêu lên Đức Chúa và Người đã nhìn đến nỗi bất hạnh của họ (Xuất Hành 3:7tt). Đối với họ, những tôi tớ Thiên Chúa, như đối với Maria tớ nữ, Thiên Chúa đã thực hiện những điều cao cả (Lc 1:49): với cánh tay hùng mạnh, Người đã phá hủy kẻ thù (Xh 15:6; Lc 1:51), tỏ ra trước mặt họ sự thánh thiện của Người (Xh 15:11tt); Lc 1:49).

Hành động của Thiên Chúa là thi ân giáng phúc cho dân Người mà cũng là chống lại kẻ thù mang danh “những phường kiêu ngạo” trong việc nổi lên chống Thiên Chúa bằng thái độ bất kính hoặc hành vi áp bức đối với người nghèo hèn bé mọn. Trong truyền thống Kinh Thánh và rabbi, những kẻ kiêu căng chỉ về những kẻ ngoại đạo (pagani, pagans) không tôn vinh Đức Chúa và gây đau khổ cho dân Người. Pharaoh là biểu tượng và nguyên mẫu cho họ. Tên gọi của “những người bé mọn” và “nghèo hèn”, ngược lại, chỉ về dân Israel trước mặt Thiên Chúa hoặc trước các dân ngoại (nazioni straniere).

Bối cảnh nền của Xuất Hành có thể được nhìn thấy nơi các câu 52-53, trong đó người bé mọn và bị xỉ nhục bị đặt dưới tay kẻ áp bức là những kẻ sẽ bị truất phế khỏi ngai (Lc 1:52), thậm chí bị nhậm chìm xuống đáy biển sâu (Xh 15:10).

Trong bài ca này, Maria - nữ tỳ của Đức Chúa – cử hành kinh nghiệm riêng của Mẹ về ơn cứu độ trên nền lịch sử Israel, tôi tớ Thiên Chúa đã được cứu giúp và giải thoát khỏi quân thù. Đó là sự trung tín của Giavê đối với lời hứa của Người: “Người đã nhớ lại lòng nhân hậu muôn đời dành cho Abraham và con cháu”. (Lc 1:54-55)

 6.      Sự mới mẻ Tân Ước

 Maria không phải là một nhân vật Cựu Ước. Được đặt giữa hai giao ước, giống và còn hơn cả Gioan Tẩy Giả, Mẹ làm cho hoàn tất kinh nghiệm của giao ước cũ và dự liệu bằng đức tin của Mẹ con đường của dân giao ước mới, nhìn từ quan điểm nhân loại.

Maria hiện diện như một liên kết giữa Israel và Hội Thánh của Đức Kitô. Magnificat là bài ca của thời Messiah, trong đó kết hợp chiến thắng của Abraham biểu thị cho Đấng Messiah (Cf. Gioan 8:56)

[17]

và reo vang một cách ngôn sứ tiếng nói của Hội Thánh.”

[18]

Bài ca của Đức Trinh Nữ không diễn tả một niềm hy vọng mà công bố một biến đã được thực hiện có tầm quan trọng quyết định, không thể đảo lại, cho sự sinh tồn của tớ nữ, cho Israel và Hội Thánh. Đó là chiến thắng của Đức Kitô trên quân thù là các thế lực cảm trở ơn cứu độ. Sự can thiệp của Đức Kitô, bẻ gẫy quyền lực sự dữ và đảo ngược thế đứng của sức mạnh độc tài trong thế giới, từ nay trở đi đã được xác thực. Các động từ của Magnificat hầu như ở dạng quá khứ, ở thì bất định, mô tả điều đã diễn ra một cách lịch sử, không chỉ cho người tớ nữ (c.48) mà còn cho tất cả  những ai kính sợ Thiên Chúa (c.50), cho kẻ nghèo hèn đói khát (cc.52-53), cho Israel (c.54), cho tất cả Hội Thánh của Đức Kitô. Hội Thánh – như dân Israel Cựu Ước và như Maria - ở giữa lòng thế giới trong thân phận nghèo hèn trước mặt Thiên Chúa, và cũng trong tình trạng bị áp bức bởi những kẻ thống trị dưới thế. Hội Thánh vì thế biết rõ và công bố rằng thân phận nghèo hèn của mình đã được biến đổi bởi quyền năng nhân hậu của Thiên Chúa, biết rõ và công bố rằng ơn cứu độ thì mạnh hơn bất công bạo lực vẫn còn tồn tại trên thế gian. Hội Thánh tin, qua lời Chúa mình, rằng các quyền lực sự dữ đã bị đánh bại nơi Đức Kitô (Cf. Gioan 16:33) và thủ lãnh thế gian này đã bị tống ra ngoài (Gioan 12:31).

 7.      Hiện thực “đã và chưa” của ơn cứu độ

 Làm sao hòa giải được chiến thắng của Thiên Chúa với sự tồn tại của sự dữ và áp bức trên thế giới? Đâu là ý nghĩa của việc lặp lại bài ca chiến thắng này mỗi ngày khi chúng ta vật lộn với nghèo đói khổ đau?

Magnificat, bài ca Do Thái-Kitô giáo, cử hành việc hoàn tất của các lời hứa xưa (c.55): thấy sự xuất hiện của Đấng Messiah thuộc dòng dõi David (Lc 1:32), Con Thiên Chúa (Lc 1:35) và Cứu Chúa (Lc 2:11, 21), biến cố quyết định mang lại niềm vui lớn lao cho dân (Lc 2:10).

Thật vậy, với việc xuất hiện và hành động của Thiên Chúa, đỉnh cao nơi màu nhiệm Vượt Qua, Người “đã viếng thăm và cứu chuộc dân Người” (Lc 1:68), thực hiện các lời hứa (Lc 1:55,70), nhớ lại giao ước, lời hứa với tổ phụ Abraham (Lc 1:72-73). Kitô Giêsu là lời Fiat (đồng ý, vâng) của các lời hứa của Thiên Chúa (Cf. 2Cor 1:19tt): một số lời hứa đã thành hiện thực với lần xuất hiện của Người, những lời hứa khác chờ việc hoàn tất trọn vẹn vào lần Người trở lại. Sau lần đến thứ nhất của Đức Kitô, lần Người cứu độ lịch sử nhân loại, sẽ có một lần thứ hai cho nhân loại và thế giới sẽ bước vào trong sự tự do tròn đầy của con cái Thiên Chúa. Giữa lần thứ nhất và thứ hai là thời kì của Hội Thánh bước đi giữa “đã và chưa” của ơn cứu độ.

      Nhưng Hội Thánh – bước đi “giữa những bách hại của thế gian và các niềm an ủi của Thiên Chúa” – phải sống và hát lời Magnificat như thế nào đây? Trước hết là thái độ đức tin trong một biến cố quyết định đã được hoàn tất một cách lịch sử: biến cố Kitô, biến cố ở trung tâm của lịch sử và làm cho mọi sự có ý nghĩa mới. Nơi Người cuộc cách mạng của Nước Trời đã bùng lên biến đổi mọi thực tại theo kế hoạch nguyên thủy của Thiên Chúa. Sự thật này mạnh mẽ hơn tất cả mọi thách đố và cám dỗ của sự dữ. “Thời đại sau cùng đã đến với chúng ta” (Cf. 1Cor 10:11) và sự đổi mới thế giới được cố định một cách không thể đảo lại và theo một nghĩa nào đó được dự liệu rồi.

[19]

      Nhưng ơn cứu độ vẫn chưa hoàn tất cho ta cũng như cả công trình tạo dựng vẫn còn mang dấu vết của đổ vỡ và tội lỗi: “Nhưng, theo lời Thiên Chúa hứa, chúng ta mong đợi trời mới đất mới, nơi công lý ngự trị.“ (2 Phêrô 3:13).“Hội Thánh lữ hành, nơi các Bí Tích và cơ cấu [...] mang nơi mình hình ảnh đang đi qua của thế giới này, sống giữa các thụ tạo còn rên siết quặn quại như sắp sinh nở cho đến ngày nay và những ngong ngóng chờ đợi sự mạc khải vinh quang của con cái Người.“ (Rm 8:19-22)

[20]

      Magnificat là một bài ca cứu độ: không có kinh nghiệm cứu độ ta không thể giải thích được lời bài ca này lẫn niềm hân hoan lan tỏa khắp bài. Đồng thời, Magnificat là một bài ca hy vọng: những người được Thiên Chúa cứu độ vẫn đang chờ đợi sự thể hiện tròn đầy của vinh quang Thiên Chúa. Magnificat cũng là bài ca của dấn thân và trách nhiệm: “Hát và bước tới!“ như lời dạy của thánh Âu-tinh, để đẩy nhanh giờ khắc ấy, giờ khắc công lý của Thiên Chúa ngự trị trọn vẹn trên cõi đất này và ơn cứu độ của Người ôm trọn chiều kích không gian lẫn thời gian.

Magnificat là một thách thức căn bản đối với vương quốc của tội lỗi đã bị đánh bại bởi hành động của Đấng Cứu Thế và kể từ đây không còn tương lai nữa dù rằng sự dữ tiếp tục chống lại các kế hoạch của Thiên Chúa và hành trình của dân Người.

      Trách nhiệm của người tín hữu là cùng với bài ca Magnificat làm sáng lên chân lý về Thiên Chúa và các chương trình của Người, vạch trần và vô hiệu hóa mưu thâm chước độc của kẻ quyền thế, giàu có và áp bức xấu xa. Đây không phải là một cuộc tranh đấu yếu thế trước lực lượng gian ác: Đức Chúa sẽ không cho phép “kẻ kiêu căng“ tiếp tục đàn áp mãi dân Người. Thiên Chúa, Đấng đã đoái nhìn “phận hèn“ của Trinh Nữ Maria và đã thực hiện cho Mẹ những điều cao cả, cũng chính là Đấng hôm nay trợ giúp “Israel tôi tớ Người“, vì lòng nhân hậu ngàn đời dành cho Abraham và con cháu.

 

 

 

 

 

 

 

 

 




[1]

Phỏng dịch từ sách của linh mục giáo sư ALBERTO VALENTINI, Maria secondo le Scritture. Figlia di Sion e Madre del Signore, EDB, 2007, từ trang 133-164. Ghi chú: xin xem tài liệu gốc để có các trích dẫn và footnote cụ thể.

[2]

Bản dịch của nhóm Phiên dịch CGKPV.

[3]

11 “Hôm nay, một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đa-vít, Người là Đấng Ki-tô Đức Chúa.”

[4]

12 Người phán : "Ta sẽ ở với ngươi. Và đây là dấu cho ngươi biết là Ta đã sai ngươi: khi ngươi đưa dân ra khỏi Ai-cập, các ngươi sẽ thờ phượng Thiên Chúa trên núi này."

[5]

1 Bà An-na cầu nguyện và nói :

                "Tâm hồn con hoan hỷ vì ĐỨC CHÚA,

                nhờ ĐỨC CHÚA, con ngẩng đầu hiên ngang.

                Con mở miệng nhạo báng quân thù :

                Vâng, con vui sướng vì được Ngài cứu độ.

2              Chẳng có Đấng thánh nào như ĐỨC CHÚA,

                chẳng một ai khác, ngoại trừ Ngài,

                chẳng có Núi Đá nào như Thiên Chúa chúng ta.

3              Các người chớ nhiều lời huênh hoang tự đắc,

                miệng đừng thốt ra điều ngạo mạn,

                vì ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa quán thông,

                mọi hành vi, chính Người xét xử.

4              Cung nỏ người hùng bị bẻ tan,

                kẻ yếu sức lại trở nên hùng dũng.

5              Người no phải làm mướn kiếm ăn,

                còn kẻ đói được an nhàn thư thái.

                Người hiếm hoi thì sinh năm đẻ bảy,

                mẹ nhiều con lại ủ rũ héo tàn.

6              ĐỨC CHÚA là Đấng cầm quyền sinh tử,

                đẩy xuống âm phủ rồi lại kéo lên.

7              ĐỨC CHÚA bắt phải nghèo và cho giàu có,

                Người hạ xuống thấp, Người cũng nhắc lên cao.

8              Kẻ mọn hèn, Chúa kéo ra khỏi nơi cát bụi,

                ai nghèo túng, Người cất nhắc từ đống phân tro,

                đặt ngồi chung với hàng quyền quý,

                tặng ngai vinh hiển làm sản nghiệp riêng.

                Vì nền móng địa cầu là của ĐỨC CHÚA,

                Người đặt cả hoàn vũ lên trên.

9              Chúa gìn giữ bước chân người trung hiếu,

                còn ác nhân bị tiêu diệt trong chốn mịt mù,

                vì con người đâu phải mạnh mà thắng.

10           Kẻ thù ĐỨC CHÚA sẽ bị đập tan,

                từ trời cao, người cho sấm sét giáng trên đầu.

                ĐỨC CHÚA xét xử khắp cùng cõi đất,

                ban quyền năng cho đức vua Người chọn,

                nêu uy thế đấng Người đã xức dầu tấn phong."

 

[6]

Xem S. Luigi M. Grignion de Montfort, Trattato dElizabetha vera devozione a Maria, Roma 1996, n. 225.

[7]

J. Dupont, “Le Magnificat comme discours sur Dieu”, in NRT 112 (1980), 342.

[8]

(c. 38) Bấy giờ bà Ma-ri-a nói : "Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói.", (c. 48) Phận nữ tỳ hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới; từ nay, hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc.

[9]

(c. 45) Em thật có phúc, vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em."; (c. 48b) từ nay, hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc.

 

[10]

(c. 55a) “như đã hứa cùng cha ông chúng ta”

[11]

tương tự một bộ sưu tập

[12]

M. DELCOR, Les hymnes de Qumran (Hodayot), Paris 1962, 31.

[13]

R. Le Déant, La nuit pascale, Rome 1963, 310.

[14]

71        sẽ cứu ta thoát khỏi địch thù, thoát tay mọi kẻ hằng ghen ghét ;

[15]

77        bảo cho dân Chúa biết : Người sẽ cứu độ, là tha cho họ hết mọi tội khiên.

[16]

(1:32-33) Người sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao. Đức Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng vua Đa-vít, tổ tiên Người. Người sẽ trị vì nhà Gia-cóp đến muôn đời, và triều đại của Người sẽ vô cùng vô tận."…

(2:11) Hôm nay, một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đa-vít, Người là Đấng Ki-tô Đức Chúa.

[17]

56 “Ông Áp-ra-ham là cha các ông đã hớn hở vui mừng vì hy vọng được thấy ngày của tôi. Ông đã thấy và đã mừng rỡ."

[18]

Marialis Cultus, 18.

[19]

Lumen Gentium, 48.

[20]

19 Muôn loài thọ tạo những ngong ngóng đợi chờ ngày Thiên Chúa mặc khải vinh quang của con cái Người. 20 Quả thế, muôn loài đã lâm vào cảnh hư ảo, không phải vì chúng muốn, nhưng là vì Thiên Chúa bắt chịu vậy ; tuy nhiên, vẫn còn niềm trông cậy 21 là có ngày cũng sẽ được giải thoát, không phải lệ thuộc vào cảnh hư nát, mà được cùng với con cái Thiên Chúa chung hưởng tự do và vinh quang. 22 Thật vậy, chúng ta biết rằng : cho đến bây giờ, muôn loài thọ tạo cùng rên siết và quằn quại như sắp sinh nở.