Skip to Content

Lectio Divina: Lễ Chúa Ba Ngôi (A)

ChuaBaNgoi A.jpg
Chúa Nhật, 11 Tháng 6, 2017

 

“Thiên Chúa đã yêu thế gian quá đỗi!”

Thiên Chúa Ba Ngôi là cộng đoàn tốt đẹp nhất 

Ga 3:16-18 

 

1.  Lời nguyện mở đầu

Lạy Chúa Giêsu, xin hãy sai Thần Khí Chúa đến giúp chúng con đọc Kinh Thánh với cùng tâm tình mà Chúa đã đọc cho các môn đệ trên đường Emmau.  Trong ánh sáng của Lời Chúa, được viết trong Kinh Thánh, Chúa đã giúp các môn đệ khám phá ra được sự hiện diện của Thiên Chúa trong nỗi đau buồn về bản án và cái chết của mình.  Vì thế, cây thập giá tưởng như là sự kết thúc của mọi niềm hy vọng, đã trở nên nguồn mạch của sự sống và sự sống lại.

Xin hãy tạo trong chúng con sự thinh lặng để chúng con có thể lắng nghe tiếng Chúa trong sự Tạo Dựng và trong Kinh Thánh, trong các sự việc của đời sống hằng ngày và trong những người chung quanh, nhất là những người nghèo khó và đau khổ.  Nguyện xin Lời Chúa hướng dẫn chúng con, để giống như hai môn đệ từ Emmau, chúng con cũng sẽ được hưởng sức mạnh sự phục sinh của Chúa và làm chứng cho những người khác rằng Chúa đang sống hiện hữu giữa chúng con như nguồn mạch của tình anh em, công lý và hòa bình.  Chúng con cầu xin vì danh Chúa Giêsu, con Đức Maria, Đấng đã mặc khải cho chúng con về Chúa Cha và đã sai Chúa Thánh Thần đến với chúng con.  Amen.

 

 2.  Bài Đọc 

 

a)  Chìa khóa để hướng dẫn bài đọc:

-  Một vài câu Tin Mừng này là một phần sự suy niệm của Thánh Sử Gioan (Ga 3:16-21), nơi ông đã giải thích với cộng đoàn của ông vào cuối thế kỷ thứ nhất, ý nghĩa của cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu và ông Nicôđêmô (Ga 3:1-15).  Trong cuộc đối thoại này, Nicôđêmô cảm thấy khó mà làm theo được suy nghĩ của Chúa Giêsu.  Việc tương tự cũng đã xảy ra với các cộng đoàn.  Một số người trong bọn họ, vẫn còn chịu ảnh hưởng của các tiêu chuẩn trong quá khứ, không thể hiểu được những sự mới lạ mà Chúa Giêsu đem lại.  Đoạn Tin Mừng của chúng ta (Ga 3:16-18) là một cố gắng để vượt qua khó khăn này.

 

-  Giáo Hội cũng đã chọn ba câu Phúc Âm này cho ngày lễ Chúa Ba Ngôi.  Thực ra, chúng là một chìa khóa quan trọng mặc khải tầm quan trọng của mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi trong đời sống chúng ta.  Khi đọc, chúng ta hãy cố gắng giữ trong trí và trong lòng chúng ta rằng trong đoạn Tin Mừng này Thiên Chúa là Chúa Cha, Chúa Con là Đức Giêsu, và tình yêu là Chúa Thánh Thần.  Vì vậy, chúng ta đừng cố gắng hiểu thấu mầu nhiệm.  Chúng ta hãy dừng lại trong yên lặng và trong ngạc nhiên!

 

b)  Phân đoạn bài Tin Mừng để trợ giúp cho bài đọc:

Ga 3:16:  Chúa Giêsu nói rằng nhờ tình yêu của Thiên Chúa mà ơn cứu độ được thể hiện ở món quà tặng Con Một của Người

Ga 3:17:  Ý muốn của Thiên Chúa là để cứu rỗi chứ không phải để luận phạt.

Ga 3:18:  Thiên Chúa đòi hỏi chúng ta phải có can đảm để tin vào tình yêu này.

 

c)  Phúc Âm:  

16:  Khi ấy, Chúa Giêsu nói với Nicôđêmô rằng:  “Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một Người để tất cả những ai tin ở Con của Người, thì không phải hư mất, nhưng được sống đời đời.

17:  Vì Thiên Chúa không sai Con của Người giáng trần để luận phạt thế gian, nhưng để thế gian nhờ Con của Người mà được cứu độ.

18:  Ai tin Người Con ấy thì không bị luận phạt.  Ai không tin thì đã bị luận phạt rồi, vì không tin vào Danh Con Một Thiên Chúa.

 

3.  Giây phút thinh lặng cầu nguyện:

 

Để Lời Chúa được thấm nhập và soi sáng đời sống chúng ta.

 

4.  Một vài câu hỏi gợi ý:

 

Để giúp chúng ta trong việc suy gẫm cá nhân.

 

a)  Điều gì khiến bạn hài lòng hoặc cảm động nhất?

b)  Sau khi xem xét cẩn thận đoạn Tin Mừng ngắn gọn này, đâu là những chữ chính được lặp lại nhiều lần?           

c)  Kinh nghiệm chính về cộng đoàn bởi tác giả Phúc Âm được cho thấy trong đoạn Tin Mừng là gì?

d)  Đoạn Tin Mừng nói cho chúng ta điều gì về tình yêu của Thiên Chúa?

e)  Đoạn Tin Mừng cho chúng ta biết gì về Đức Giêsu?

f)  Đoạn Tin Mừng cho chúng ta biết gì về thế gian?

g)  Đoạn Tin Mừng mặc khải cho ta điều gì?

 

5.  Chìa khóa của bài đọc

 

Dành cho những ai muốn đào sâu vào trong bài Tin Mừng.

 

a)  Bối cảnh mà Lời của Chúa Giêsu xuất hiện trong Tin Mừng Gioan:

 

*  Nicôđêmô là một nhà thông thái nghĩ rằng ông biết tất cả về Thiên Chúa.  Ông quan sát Chúa Giêsu với cuốn sách Luật của Môisen trong tay ông để xem liệu những điều mới được công bố bởi Đức Giêsu có phù hợp với cuốn sách không.  Trong cuộc trò truyện, Chúa Giêsu đã chỉ ra cho Nicôđêmô (và cho tất cả chúng ta) rằng cách duy nhất để một người có thể hiểu được những việc về Thiên Chúa là phải tái sinh lần nữa!  Điều tương tự cũng xảy ra ngày nay.  Thông thường, chúng ta cũng giống như Nicôđêmô:  chúng ta chỉ chấp nhận những điều gì hợp với sự suy nghĩ của chúng ta thôi.  Ngoài ra chúng ta bác bỏ tất cả, nghĩ rằng nó trái ngược với truyền thống.  Nhưng không phải tất cả mọi việc là như thế này.  Có những người để cho mình được ngạc nhiên bởi những sự kiện và có những người không ngần ngại khi tự nhủ:  “Ta hãy tái sinh!”

 

*  Khi nhớ lại những lời của Chúa Giêsu, tác giả Phúc Âm đã có trước mắt của ông tình trạng của cộng đoàn vào cuối thế kỷ thứ nhất, và vì những người này mà ông đã viết.  Những nghi ngờ của ông Nicôđêmô cũng là những nỗi hoài nghi của các người trong cộng đoàn.  Vì thế, câu trả lời của Chúa Giêsu cũng là để trả lời cho cộng đoàn.  Rất có thể, cuộc đàm thoại giữa Chúa Giêsu và ông Nicôđêmô là một phần của giáo lý rửa tội, bởi vì văn bản nói rằng người ta phải được tái sinh trong nước và Chúa Thánh Thần (Ga 3:6).  Trong bài bình luận ngắn gọn sau đây, chúng ta tập trung vào những ý chính xuất hiện trong văn bản và là trung tâm điểm của Tin Mừng Gioan.  Chúng được dùng như những chữ chính cho việc đọc toàn bộ cuốn Tin Mừng.  

 

b)  Lời bình giải về đoạn Tin Mừng 

 

*  Ga 3:16:  Yêu là cho đi chính mình vì lợi ích của tình yêu.  Trước hết, chữ tình yêu chỉ về một trải nghiệm sâu sắc trong mối quan hệ giữa người và người.  Nó bao gồm những cảm xúc và các giá trị như hân hoan, buồn rầu, đau khổ, tăng trưởng, từ bỏ, hiến dâng, nhận thức, quà tặng, sự cam kết, cuộc sống, cái chết, v.v.  Trong Cựu Ước, những giá trị và cảm xúc này được tóm tắt trong chữ “hesed”, trong Kinh Thánh của chúng ta, thường được dịch là lòng bác ái, lòng thương xót, sự trung thành hay tình yêu.

Trong Tân Ước, Chúa Giêsu mặc khải cho thấy tình yêu này của Thiên Chúa trong những gặp gỡ của Người với dân chúng.  Người mặc khải điều này qua các cảm xúc của tình bằng hữu, sự tử tế, ví dụ như là trong mối quan hệ của Chúa với gia đình chị em bà Martha tại Bêtania:  “Chúa Giêsu quý mến bà Martha, các em bà là Maria và Lagiarô”.  Người đã rơi lệ tại mồ của Lagiarô (Ga 11:5, 33-36).  Chúa Giêsu phải đối diện với sứ vụ của Người như là sự biểu lộ của tình yêu:  “Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình … Người yêu thương họ đến cùng” (Ga 13:1).  Trong tình yêu này, Chúa Giêsu mặc khải danh phận sâu sắc của Người với Chúa Cha:  “Như Cha đã yêu thương Thầy thế nào, thì Thầy cũng yêu thương như vậy!”  (Ga 15:9).  Người cũng nói với chúng ta:  “Các con hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương các con!”  (Ga 15:12).  Gioan định nghĩa tình yêu như sau:  “Điều này đã dạy chúng ta tình yêu là gì – đó là Đức Kitô đã thí mạng vì chúng ta; như vậy, cả chúng ta nữa, chúng ta cũng phải thí mạng mình vì anh em chúng ta”. (1Ga 3:16).  Không có một giới răn nào khác ngoài giới răn này cho cộng đoàn, “phải sống cùng đời sống như của Đức Giêsu (1Ga 2:6).  Những ai sống, yêu và bày tỏ nó trong lời nói và thái độ, sẽ trở thành Người Môn Đệ Chúa Yêu.

 

*  Ga 3:17:  Chúa yêu thương thế gian và đã hiến mạng sống mình để cứu độ thế gian.  Chữ thế gian được tìm thấy 78 lần trong Tin Mừng của Gioan, nhưng với những ý nghĩa khác nhau.  Trước hết, “thế gian” có nghĩa là trái đất, không gian sinh sống bởi loài người (Ga 11:9; 21:25) hoặc vũ trụ được tạo dựng (17:5-24).  Trong đoạn Tin Mừng của chúng ta, “thế gian” có thể có nghĩa là những người sống ở trái đất này, toàn thể nhân loại, được yêu thương bởi Thiên Chúa, Đấng đã ban Con Một Người vì lợi ích của thế gian (Ga 1:9; 4:42; 6:14; 8:12).  Nó cũng có thể có nghĩa là thiên hạ, trong ý nghĩa của “toàn thể thế giới” (Ga 12:19; 14:27).  Tuy nhiên, hơn hết cả, trong Tin Mừng của Gioan chữ “thế gian” có nghĩa là nhân loại để đối lại với Chúa Giêsu và như thế trở thành kẻ “đối nghịch” hoặc “đối lập” (Ga 7:4-7; 8:23-26; 9:39; 12:25).  “Thế gian”, trái với việc giải thoát của Chúa Giêsu, bị chi phối bởi sự thù nghịch, Satan, cũng được gọi là “thủ lãnh thế gian” (14:30; 16:11), là những kẻ ngược đãi và tàn sát các cộng đoàn tín hữu (16:33), tạo ra sự bất công, áp bức, duy trì bởi những kẻ cầm quyền, bởi những kẻ cai trị trong đế quốc và hội đường.  Họ nhân danh Thiên Chúa mà thực hành sự bất công (16:2).  Niềm hy vọng mà Tin Mừng của Gioan mang đến các cộng đoàn là Chúa Giêsu sẽ chiến thắng thủ lãnh của thế gian này (12:31).  Người dũng mãnh hơn “thế gian”.  “Trong thế gian, các con sẽ phải gian nan khốn khó, nhưng hãy can đảm lên:  Thầy đã thắng thế gian” (16:33).    

      

*  Ga 3:18:  Con Một Thiên Chúa Đấng đã dâng hiến mạng sống mình cho chúng ta:  Một trong những danh hiệu cổ xưa nhất và trang trọng nhất mà các Kitô hữu tiên khởi đã dùng để mô tả sứ vụ của Chúa Giêsu là Đấng Che Chở.   Tiếng Do Thái gọi là Goêl.  Chữ này thường được dùng để chỉ bà con gần nhất, người anh cả, người có bổn phận phải chuộc lại những người anh em mình có thể đang bị đe dọa mất hết tài sản của họ (Lv 25:23-55).  Vào thời kỳ lưu đày ở Babylon, mọi người, luôn cả người bà con gần nhất, mất hết tất cả.  Khi ấy, Thiên Chúa đã trở thành Đấng Che Chở (Goêl) của dân Người.  Chúa đã chuộc lại dân Người khỏi ách nô lệ.  Trong Tân Ước, chính là Đức Giêsu, Con Một Thiên Chúa, trưởng tử, người thân nhân gần nhất, đã trở thành Đấng Che Chở (Goêl) của chúng ta.  Thuật ngữ hoặc danh hiệu này được phiên dịch một cách đa dạng như vị cứu tinh, đấng cứu chuộc, người giải phóng, đấng bào chữa, người anh cả, đấng an ủi, vân vân… (Lc 2:11; Ga 4:42; Cv 5:31; v.v.).  Chúa Giêsu lãnh lấy trách nhiệm che chở và cứu chuộc gia đình của Người, dân của Người.  Chúa đã tự hy sinh trọn vẹn và hoàn toàn để chúng ta, các anh chị em của Người, có thể được sống lại trong tình yêu thương anh em.  Đây là sự phục vụ Người ban cho chúng ta.  Điều đó cũng khiến cho lời tiên tri của ngôn sứ Isaia công bố về một Đấng Mêssia Tôi Tớ được viên mãn.  Chúa Giêsu đã nói:  “Vì Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ, và hiến mạng sống làm giá chuộc (goêl) muôn người!” (Mc 10:45).  Thánh Phaolô nói lên sự phát hiện này trong lời sau đây:  “Người đã yêu mến tôi và hiến mạng vì tôi!” (Gl 2:20).

 

c)  Mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi trong bài viết của Gioan:

 

*  Niềm tin vào Thiên Chúa Ba Ngôi Cực Thánh là sự khởi đầu và kết thúc của đức tin chúng ta.  Bất cứ điều gì chúng ta nói hôm nay với mức độ rất rõ ràng về Thiên Chúa Ba Ngôi Chí Thánh, có thể được tìm thấy trong Tân Ước.  Nó được tìm thấy ở đó dưới hình thức hạt giống và được phát triển qua nhiều thế kỷ.  Trong số bốn Thánh Sử, thánh Gioan là người đã giúp chúng ta nhiều nhất để hiểu rõ mầu nhiệm của Thiên Chúa Ba Ngôi. 

Gioan nhấn mạnh đến sự hợp nhất sâu xa giữa Chúa Cha và Chúa Con.  Sứ vụ của Chúa Con là mặc khải về tình yêu của Chúa Cha (Ga 17:6-8).  Chúa Giêsu đến để công bố:  “Chúa Cha và Ta là một” (Ga 10:30).  Có sự hợp nhất như thế, để cho những ai trông thấy Chúa Con tức cũng là trông thấy Chúa Cha.  Bằng vào sự mặc khải về Chúa Cha, Đức Giêsu truyền đạt một thần khí mới “Thần Khí Sự Thật phát xuất từ Chúa Cha” (Ga 15:26).  Theo lời cầu xin của Chúa Con (Ga 14:16), Chúa Cha sẽ ban cho mỗi người chúng ta Thần Khí mới này để ở lại với chúng ta luôn mãi.  Thần Khí này, xuất phát từ Chúa Cha (Ga 14:16) và từ Chúa Con (Ga 16:7-8) cho thấy sự hiệp nhất sâu xa hiện hữu giữa Chúa Cha và Chúa Con (Ga 15:26-27).  Người Kitô hữu đã nhìn thấy sự hiệp nhất trong Thiên Chúa để hiểu ra rằng sự hiệp nhất cũng cần phải thể hiện trong số họ. (Ga 13:34-35; 17:21).

Ngày nay chúng ta nói:  Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần.  Sách Khải Huyền viết:  Người là Đấng hiện có, đã có, và đang đến, xin bảy thần khí hiện diện trước ngai của Người, và từ Đức Giêsu Kitô là vị Chứng Nhân trung thành, là Trưởng Tử trong số những người từ cõi chết chỗi dậy, là Thủ Lãnh mọi vương đế trần gian (Kh 1:4-5).  Với các danh hiệu này, Gioan nói cho chúng ta biết những gì mà các cộng đoàn nghĩ và hy vọng được nhận lãnh ân sủng từ Chúa Cha, trong Chúa Con và Chúa Thánh Thần.

     

Chúng ta hãy xem:

 

i)  Nhân danh Cha:  Đấng Trước Hết và Sau Cùng (Alpha và Omega), Đấng Hiện Có, Đấng Đã Có, Đấng Đang Đến, Đấng Toàn Năng.

 

Đấng Khởi Nguyên và Cùng Tận.  Chúng ta có thể nói Đấng từ A đến Z (xem Is 44:6; Kh 1:17).  Thiên Chúa là sự khởi đầu và kết thúc của lịch sử.  Không có chỗ nào cho một Chúa khác!  Các Kitô hữu không thể chấp nhận sự giả dối của Đế Quốc La Mã đã thần thánh hóa các hoàng đế của họ.  Không có điều gì xảy ra trong đời sống mà có thể được diễn giải chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên đơn giản, ngoài sự quan phòng yêu thương của Thiên Chúa chúng ta.

Đấng Hiện Có, Đã Có, Đang Đến (Kh 1:4-8; 4:8).  Thiên Chúa của chúng ta không phải là một Thiên Chúa xa vời.  Người đã ở với trong chúng ta trong quá khứ, đang ở với chúng ta trong hiện tại, sẽ ở với chúng ta trong tương lai.  Người hướng dẫn lịch sử, ở trong lịch sử, đồng hành với dân của Người.  Lịch sử của Thiên Chúa là lịch sử của dân Người.

Đấng Toàn Năng.  Đây là một vương hiệu dành cho các vua chúa sau Đại Đế Alexander.  Đối với các Kitô hữu, vị vua đích thực là Đức Chúa Trời.  Danh hiệu này thể hiện quyền năng tác tạo mà Người dùng để hướng dẫn dân Người.  Danh hiệu tăng thêm sự chắc chắn của chiến thắng và thôi thúc chúng ta phải ca hát lên, ngay cả lúc này, niềm hân hoan về một Trời Mới và Đất Mới (Kh 21:2).       

 

ii)  Nhân danh Chúa Con:  Vị Chứng Nhân Trung Thành, Trưởng Tử trong số những người chết, Thủ Lãnh của các vua trên trần gian.

Vị Chứng Nhân Trung Thành:  Chứng nhân đồng nghĩa với người tử đạo.  Đức Giêsu đã có can đảm làm chứng cho Tin Mừng của Thiên Chúa Cha.  Người đã trung thành cho đến chết, lời đáp trả của Thiên Chúa là sự phục sinh (Pl 2:9; Dt 5:7).

Trưởng Tử trong số những người chết:  Trưởng tử cũng giống như người anh cả (Cl 1:18).  Đức Giêsu là trưởng tử trong số những người chết chỗi dậy.  Sự chiến thắng cõi chết của Người cũng sẽ là của chúng ta, các anh chị em của Người!

Thủ Lãnh của các vua trên trần gian:  Đây là một danh hiệu được trao cho các Hoàng Đế La Mã như một sự tuyên truyền chính thức.  Các người Kitô hữu đã trao danh hiệu này cho Đức Kitô.  Tin vào Đức Kitô bị xem như là một hành động nổi loạn chống phá lại đế chế và hệ thống tư tưởng của nó.

Ba danh hiệu sau đây xuất phát từ Thánh Vịnh 89, ở đó Đấng Cứu Thế được gọi là vị Chứng Nhân Trung Thành (Tv 89:38), là Trưởng Tử (Tv 89:28), Đấng Cao Cả hơn các vua chúa trần gian (Tv 89:28).  Các Kitô hữu tiên khởi lấy nguồn cảm hứng từ Kinh Thánh để xây dựng học thuyết của họ.

 

iii) Nhân danh Chúa Thánh Thần:  Bảy ngọn đuốc, Bảy mắt, Bảy thần khí.

Bảy ngọn đuốc:  Theo sách Khải Huyền 4:5, điều này đã được viết rằng bảy thần khí là bảy ngọn đuốc cháy sáng trước Ngai Tòa Thiên Chúa.  bảy bởi vì chúng đại diện cho sự sung mãn của kỳ công Thiên Chúa trên thế gian.  bảy ngọn đuốc cháy sáng, bởi vì chúng tượng trưng cho tác động của Chúa Thánh Thần Đấng soi sáng, làm mới và thanh tẩy (Cv 2:1).  Những ngọn đuốc đứng trước Ngai Tòa luôn luôn sẵn sàng đáp ứng bất cứ mệnh lệnh nào của Thiên Chúa.

Bảy mắt:  Sách Khải Huyền 5:6 viết rằng Chiên Con có bảy mắt, tượng trưng cho bảy thần khí Thiên Chúa đã được sai đi khắp mặt đất.  Thật là một hình ảnh đẹp!  Chỉ cần nhìn vào Chiên Con là có thể thấy Thần Khí Chúa làm việc ở nơi mà Chiên Con nhìn đến, bởi vì mắt của Người là mắt của Thần Khí Chúa.  Chính Người là Đấng luôn dõi theo chúng ta!

Bảy Thần Khí:  Số bảy gợi lại bảy ơn của Chúa Thánh Thần được đề cập đến trong sách của ngôn sứ Isaia và sẽ ngự lại trên Đấng Cứu Thế (Is 11:2-3).  Lời tiên tri này chứng thực trong Đức Giêsu.  Bảy Thần Khí của Thiên Chúa đồng thời cũng là của Chúa Giêsu.  Cùng một danh tính của Chúa Thánh Thần với Chúa Giêsu xuất hiện ở cuối của mỗi bảy lá thư.   Chính Đức Kitô đã nói trong những lá thư, và tại cuối mỗi lá thư chúng ta đọc, Người lắng nghe những gì Chúa Thánh Thần nói với các Giáo Hội.  Chúa Giêsu nói, tức là Chúa Thánh Thần nói.  Cả hai là một.        

                                                                                                                                        

6.  Thánh Vịnh 63:1-9                                                                                                               

Lạy Chúa, linh hồn con khát khao Ngài!

Lạy Thiên Chúa, Ngài là Chúa con thờ,
ngay từ rạng đông con tìm kiếm Chúa.
Linh hồn con đã khát khao Ngài,
tấm thân này mòn mỏi đợi trông,
như mảnh đất hoang khô cằn, không giọt nước.
Nên con đến ngắm nhìn Ngài trong nơi thánh điện,
để thấy uy lực và vinh quang của Ngài.
Bởi ân tình Ngài quý hơn mạng sống,
miệng lưỡi này xin ca ngợi tán dương.

Suốt cả đời con, nguyện dâng lời chúc tụng,
và giơ tay cầu khẩn danh Ngài.
Lòng thoả thuê như khách vừa dự tiệc,
môi miệng con rộn rã khúc hoan ca.
Con tưởng nhớ Chúa trên giường ngủ,
suốt năm canh thầm thĩ với Ngài.
Quả thật Ngài đã thương trợ giúp,
nương bóng Ngài, con hớn hở reo vui.
Trót cả tâm tình, con cùng Ngài gắn bó,
giơ tay quyền lực, Ngài che chở phù trì.

 

7.  Lời Nguyện Kết

Lạy Chúa Giêsu, chúng con xin cảm tạ Chúa về Lời Chúa đã giúp chúng con hiểu rõ hơn ý muốn của Chúa Cha.  Nguyện xin Thần Khí Chúa soi sáng các việc làm của chúng con và ban cho chúng con sức mạnh để thực hành Lời Chúa đã mặc khải cho chúng con.  Nguyện xin cho chúng con, được trở nên giống như Đức Maria, thân mẫu Chúa, không những chỉ lắng nghe mà còn thực hành Lời Chúa.  Chúa là Đấng hằng sống hằng trị cùng với Đức Chúa Cha trong sự hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn thuở muôn đời.  Amen.

 

Vể Tác Giả và Dịch Giả: 

Các bài viết Lectio Divina do nhóm tác giả; Lm. Carlos Mesters, O.Carm. Nt. Maria Anastasia di Gerusalemme, O.Carm., Lm. Cosimo Pagliara, O.Carm. Nt. Maria Teresa della Croce, O.Carm. Lm. Charlò Camilleri, O.Carm. Lm. Tiberio Scorrano, O.Carm. Nt. Marianerina De Simone, SCMTBG và Lm. Roberto Toni, O.Carm., Dòng Cát Minh biên soạn. Bản dịch tiếng Việt do Cô Martha Nhung Trần thực hiện. Tác giả và dịch giả giữ bản quyền.



date | by Dr. Radut