Skip to Content

Lectio Divina: Lễ Thánh Gia (A)

ThanhGia A.jpg
Thứ Sáu, 30 Tháng 12, 2016

 

Cuộc chạy trốn sang Ai Cập và trở về Nagiarét

Mt 2:13-23 

 

1.  Bài Đọc

 

a)  Lời nguyện mở đầu:  

 

Lạy Chúa, Đấng Tạo Dựng trời đất và là Cha của chúng con, Chúa đã sai Con Một Chúa, Đấng đã hiện hữu trước bình minh của thế gian, phải nên giống như chúng con trong tất cả mọi việc qua việc nhập thể của Người trong cung lòng Đức Trinh Nữ Maria do bởi quyền năng của Chúa Thánh Thần.  Xin Chúa hãy sai cùng một Thần Khí ban sự sống đến trên chúng con, để chúng con có thể trở nên ngoan ngoãn với công việc thánh hóa của Chúa hơn bao giờ hết, để cho bản thân chúng con được biến đổi một cách nhẹ nhàng bởi cùng Chúa Thánh Thần và nên giống như Đức Kitô, Con Một Chúa, anh của chúng con, Chúa Cứu Thế và là Đấng Cứu Chuộc chúng con.

 b)  Bài Phúc Âm theo thánh Mátthêu:

 13 Sau khi các đạo sĩ ra đi, thiên thần Chúa hiện ra với ông Giuse trong lúc ngủ và bảo ông:  “Hãy thức dậy, đem hài nhi và mẹ Người trốn sang Ai-Cập, và ở đó cho tới khi tôi báo lại ông, vì Hêrôđê sắp sửa tìm kiếm hài nhi để sát hại Người.”  14 Ông thức dậy, đem hài nhi và mẹ Người lên đường trốn sang Ai-Cập đang lúc ban đêm. 15 Ông ở lại đó cho tới khi Hêrôđê băng hà, hầu làm trọn điều Chúa dùng miệng tiên tri mà phán rằng:  “Ta gọi Con Ta ra khỏi Ai-Cập.”  16 Bấy giờ Hêrôđê thấy mình bị các đạo sĩ đánh lừa, nên nổi cơn thịnh nộ và sai quân đi giết tất cả con trẻ ở Bêlem và vùng phụ cận từ hai tuổi trở xuống, tính theo thời gian vua đã cặn kẽ hỏi các đạo sĩ.  17 Thế là ứng nghiệm lời tiên tri Giêrêmia đã nói:  18 Tại Rama, người ta nghe những tiến khóc than nức nở, đó là tiếng bà Rakhen than khóc con mình, bà không chịu cho người ta an ủi bà, vì các con bà không còn nữa.  19 Khi Hêrôđê băng hà, thì đây thiên thần Chúa hiện ra cùng Giuse trong giấc mơ, bên Ai-Cập 20 và bảo:  “Hãy chỗi dậy, đem con trẻ và mẹ Người về đất Israel; vì những người tìm hại mạng sống Người đã chết!”  21 Ông liền chỗi dậy, đem con trẻ và mẹ Người về đất Israel.  22 Nhưng nghe rằng Arkhêlao làm vua xứ Giuđêa thay cho Hêrôđê là cha mình, thì Giuse sợ không dám về đó.  Được báo trong giấc mộng, ông lánh sang địa phận xứ Galilêa, 23 và lập cư trong thành gọi là Nagiarét: để ứng nghiệm lời đã phán qua các tiên tri rằng:  Người sẽ được gọi là Nagiarêô.

 c)  Giây phút thinh lặng cầu nguyện:

 Để Lời Chúa có thể thấm nhập vào lòng và soi sáng đời sống chúng ta. 

2.  Suy Gẫm 

a)  Chìa khóa dẫn đến bài đọc: 

 

Tin Mừng của thánh Mátthêu đã được gọi là “Tin Mừng Nước Trời”.  Mátthêu mời gọi chúng ta suy nghĩ về việc Vương Quốc Nước Trời sắp đến.  Có một số người đã thấy trong cấu trúc sách Tin Mừng của ông tường thuật một bộ trường bi kịch gồm có bảy màn nói về sự sắp xuất hiện của Vương Quốc này.  Bộ trường bi kịch bắt đầu với việc chuẩn bị cho sự ra đời của Vương Quốc trong con người của cậu bé Đấng Cứu Thế và kết thúc với sự ra đời của Vương Quốc trong sự đau khổ và chiến thắng của cuộc khổ nạn, cái chết và sự phục sinh của Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa.

 

Đoạn Tin Mừng được đưa ra để cho chúng ta suy gẫm là một phần được gọi là màn đầu tiên nơi Mátthêu giới thiệu với chúng ta con người của Đức Giêsu như là việc thực hiện những lời của Kinh Thánh.  Tin Mừng của Mátthêu là Tin Mừng thường trích dẫn lời Cựu Ước để cho thấy rằng trong Đức Kitô, lề luật và các lời tiên tri đã được ứng nghiệm.  Chúa Giêsu, sự ứng nghiệm và hoàn thiện của Kinh Thánh, đến thế gian để tái lập Vương Quốc Nước Trời đã được công bố trong giao ước của Thiên Chúa với dân Người.  Với sự ra đời của Đức Kitô, giao ước này không còn được chỉ dành riêng cho dân Do-Thái mà được mở rộng ra cho tất cả mọi dân tộc.  Mátthêu viết Tin Mừng cho cộng đoàn Kitô hữu gốc Do-Thái, bị bách hại bởi hội đường, và mời gọi Tin Mừng được mở rộng ra cho các dân ngoại.  Ông là người ký lục khôn ngoan biết cách phân biệt từ kho tàng của mình những gì cũ và mới.  Tin Mừng của ông đã được viết lần đầu tiên bằng tiếng Aramaic và sau đó được chuyển ngữ sang tiếng Hy-Lạp.

 

Đoạn Tin Mừng Mt 2:13-23 là một phần của chương nói về sự Giáng Sinh và thời thơ ấu của “Đức Giêsu Kitô, con cháu vua Đavít, con cháu tổ phụ Abraham” (Mt 1:1).  Chúa Giêsu thuộc dòng dõi của dân Do-thái nhưng Người cũng thuộc dòng dõi của cả nhân loại.  Trong gia phả của Người, chúng ta thấy có những ảnh hưởng của cả dân ngoại (Mt 1:3-6).  Sau Đức Maria, mẹ Người, những người đầu tiên được gọi để đến bái lạy Đức Cứu Thế hài nhi là những nhà đạo sĩ (Mt 2:11).  Với ánh sáng của Người, Đức Cứu Thế thu hút những đạo sĩ tìm đến Người và ban cho họ ơn cứu rỗi (Mt 2:1-12).  Các nhà đạo sĩ nhận được ơn cứu rỗi này, không giống như Hêrôđê và các dân bối rối của thành Giêrusalem (Mt 2:3).  Ngay từ lúc sinh ra, Chúa Giêsu đã bị đàn áp bởi các kẻ thủ lãnh của dân tộc Người và đồng thời khơi dậy những kinh nghiệm thương đau của dân Người.

 

Ngay từ lúc sinh ra, Chúa Giêsu đã làm khơi dậy những kinh nghiệm đau thương của dân Người trong cuộc sống lưu đày, bị hạ nhục lần nữa và lần nữa.  Phúc Âm cho chúng ta thấy điều này bằng cách kể lại cho chúng ta biết về việc chạy trốn sang Ai Cập và cuộc tàn sát những trẻ thơ vô tội. Bộ trường bi kịch của những sự kiện này mở ra trước chúng ta trong các chi tiết sau đây:

i)  Thiên thần Chúa hiện ra với ông Giuse trong giấc mộng sau khi các đạo sĩ ra đi, và cuộc chạy trốn sang Ai Cập (Mt 2:13-15).

ii)  Vua Hêrôđê biết mình bị các đạo sĩ đánh lừa và sai quân đi giết tất cả các con trẻ ở Bêlem (Mt 2:16-18).

iii)  Cái chết của vua Hêrôđê và cuộc trở về “bí mật” của Thánh Gia không về lại Bêlem mà lánh sang xứ Galilê (Mt 2:19-23).

 

Chủ đề các vị vua ra tay tàn sát những kẻ mà họ sợ thì rất thông thường trong lịch sử của mỗi triều đại vua chúa.  Ngoài cảnh vua Hêrôđê lùng kiếm để sát hại hài nhi Giêsu ra, trong Kinh Thánh phần Cựu Ước, chúng ta cũng tìm thấy những câu chuyện tương tự.  Trong sách Samuel quyển thứ nhất, vua Saul, người đã bị Đức Chúa từ chối, lo sợ Đavít và tìm cách sát hại ông (1Sm 15; 18; 19; 20). Bà Mikhan và ông Giônathan đã giúp Đavít chạy thoát (1Sm 19; 20).  Lần nữa trong sách Các Vua quyển thứ nhất, vua Salômôn trong tuổi già của mình, đã bất trung với Thiên Chúa của cha ông và với một trái tim hoang đàng, đã làm những điều tội lỗi dưới con mắt của Thiên Chúa (1V 11:3-13).  Vì lý do này, Thiên Chúa đã xui khiến cho có một người đối nghịch chống lại vua Salômôn (1V 11:14), Hađát là người dưới triều đại vua Đavít đã chạy trốn sang Ai Cập lánh nạn (1V 11:17).  Một người đối nghịch khác với vua Salômôn là Gia-róp-am cũng đã trốn chạy sang Ai Cập khi nhà vua muốn tìm cách giết ông (1V 11:40).  Những sự nguy hiểm như thế của một vương quốc suy thoái.  Trong sách Các Vua quyển thứ hai, lần này trong bối cảnh thành Giêrusalem bị vây hãm, “Ngày mồng mười, tháng mười, năm thứ chín dưới triều đại [vua Na-bu-cô-đô-nô-xo]” (2V 25:1) năm 589, chúng ta đọc thấy thành Giêrusalem bị cướp phá và cuộc lưu đày biệt xứ lần thứ hai của người dân vào năm 587 (2V 25:8-21).  Những người dân “còn sót lại trong xứ Giuđêa” (2V 25:22) bị đặt dưới quyền cai trị của Gơđan-gia-hu, người được vua Na-bu-cô-đô-nô-xo đặt làm tổng trấn.  “Ông Ít-ma-en […] và cùng với mười người […] giết chết ông Gơđan-gia-hu cũng như các người Giuđêa và Canđê đang cùng ở với ông”.  Sau đó vì sợ người Canđê, họ chạy trốn sang đất Ai-cập (2V 25-26).  Trong sách của tiên tri Giêrêmia, chúng ta cũng tìm thấy câu chuyện của Uria “Cũng có một người nữa đã tuyên sấm nhân danh Đức Giavê” (Gr 26:20).  Uria đã trốn sang Ai-cập vì vua Giơ-hô-akim đang tìm cách giết ông.  Cuối cùng nhà vua đã tìm thấy ông ở Ai-cập và đã giết ông (Gr 25:20-24).

 

Với những sự kiện này như là bối cảnh cho cuộc chạy trốn của Thánh Gia vào đất Ai-cập; Mátthêu cho chúng ta thấy Đức Giêsu, từ thuở còn rất thơ ấu, như đã tham dự vào vận mệnh của dân tộc Người.  Đất Ai-cập, đối với Chúa Giêsu, trở thành một nơi lánh nạn, như đã từng được dùng cho các tổ phụ xưa kia:

-  Abraham “xuống trú ngụ ở Ai-cập trong thời gian đó, vì nạn đói hoành hành trong xứ” (St 12:10).

-  Giuse đã bị đe dọa bởi các anh mình, những người đã tìm cách giết cậu vì lòng ghen tị, và sau đó bán cậu cho những người lái buôn đã đưa cậu vào đất Ai-cập và bán cậu lại cho Pô-ti-pha (St 37:12-36).

-  Israel (Giacóp) đi đến Ai-cập theo lời mời của con trai ông là Giuse (St 46:1-7).

-  Gia đình của Israel (Giacóp) đi đến Ai-cập để định cư tại đó (St 46-50; Et 1:1-6).

 

Mátthêu xoay qua trích dẫn ngược lại từ sách tiên tri Hôsê 11:1 “Từ Ai-cập Ta đã gọi Con Ta về”, và giải thích như là nếu Thiên Chúa đã gọi Con của Người là Đức Giêsu phải trốn sang Ai Cập (Mt 2:15).  Ý nghĩa nguyên thủy của Hôsê là Thiên Chúa đã gọi Con của Người là Israel rời khỏi đất Ai-cập để bắt đầu một quốc gia mới.  Cuộc trốn chạy của Chúa Giêsu vào đất Ai-cập và việc tàn sát những trẻ vô tội tại Bêlem nhắc nhớ chúng ta việc dân Israel bị đàn áp ở Ai-cập và việc tàn sát tất cả những bé trai mới sinh (Xh 1:8-22).

 

Lời tiên tri được áp dụng vào vụ giết hại những người vô tội được trích ra từ sách an ủi gồm các chương 30 và 31 của sách tiên tri Giêrêmia. Tiếng than khóc được nối kết với lời hứa của Chúa an ủi bà Rakhen, vợ ông Giacóp (vợ ông Israel), mẹ của Giuse, người mà theo thánh truyền được chôn cất gần Bêlem, và hứa với bà rằng bà sẽ được đền bù vì sự than khóc của bà cho những người con sẽ không còn trở về nữa (Gr 31:15-18).

 

Khi họ trở về từ Ai-cập sau khi vua Hêrôđê băng hà, thánh Giuse quyết định sang lập cư ở xứ Galilê trong thành Nagiarét.  Chúa Giêsu sẽ được gọi là Nagiarêô (Cv 24:5).  Ngoài việc chỉ ra tên của một thành, tên này cũng có thể nói đến như “một nhánh nhỏ”, đó là “neçer của sách tiên tri Isaia 11:1.  Hoặc nó có thể ám chỉ phần còn lại của Israel, “naçur (xem Is 42:6).    

 

b)  Những câu hỏi cho phần suy gẫm cá nhân:

 

i)  Điều gì trong đoạn Tin Mừng này của Mátthêu đánh động bạn nhất?

ii)  Vương Quốc Nước Trời có ý nghĩa gì đối với bạn?

iii)  Vương Quốc Nước Trời khác với các vương quốc trần thế như thế nào?

iv)  Mátthêu giới thiệu với chúng ta về con người của Đức Giêsu như là Đấng trở thành một người chịu cùng một số phận với dân của Người.  Bạn hãy đọc đoạn Tin Mừng được trích dẫn trong phần chìa khóa dẫn đến bài đọc để suy gẫm và cầu nguyện về các sự kiện về dân riêng của Chúa, với những người mà Chúa Giêsu đã tự gắn bó.  Những tình trạng gì tương tự trong thế giới chúng ta?  Hãy tự hỏi chính bạn rằng bạn có thể làm được gì để cải thiện các điều kiện nơi bạn sống và làm việc, đặc biệt là nếu chúng không đúng với Vương Quốc Nước Trời.    

 

3.  Cầu Nguyện 

 

a)  Cầu nguyện cá nhân trong thinh lặng.

 

b)  Kết thúc buổi “đọc sách thánh trong tinh thần cầu nguyện” (Lectio Divina) với lời nguyện này:

 

Lạy Cha nhân từ, xin Cha cho chúng con có thể noi theo gương Thánh Gia của Chúa Giêsu, Mẹ Maria và Thánh Giuse để chúng con có thể luôn được bền vững trong các  thử thách của đời sống cho đến ngày khi chúng con có thể được chung hưởng vinh quang của Cha trên Nước Trời.  Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô là Chúa chúng con.  Amen.  

4.  Chiêm Niệm

 

Ước gì ơn bình an của Đức Kitô điều khiển tâm hồn anh em.  (Cl 3:15)

 

Vể Tác Giả và Dịch Giả: 

Các bài viết Lectio Divina do nhóm tác giả; Lm. Carlos Mesters, O.Carm. Nt. Maria Anastasia di Gerusalemme, O.Carm., Lm. Cosimo Pagliara, O.Carm. Nt. Maria Teresa della Croce, O.Carm. Lm. Charlò Camilleri, O.Carm. Lm. Tiberio Scorrano, O.Carm. Nt. Marianerina De Simone, SCMTBG và Lm. Roberto Toni, O.Carm., Dòng Cát Minh biên soạn. Bản dịch tiếng Việt do Cô Martha Nhung Trần thực hiện. Tác giả và dịch giả giữ bản quyền.



date | by Dr. Radut